TRẦN ĐÌNH HOÀNH

on Buddhism

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không

Thiền sư Đạo Hạnh, họ Từ tên Lộ, ở chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích. Cha tên là Vinh, làm chức Tăng Quan Đô Sát ở triều Lý, thường qua chơi làng An Lãng, lấy con gái người họ Tăng tên là Loan nên sống luôn ở đó. Lộ tức là con bà họ Tăng vậy.

Chùa Thầy, thờ Từ Đạo Hạnh, ở Hà Tây

Thuở niên thiếu, thích giao du, lỗi lạc, hào hiệp, có chí lớn, thường kết bạn với nhà nho Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và con hát Phan Ất. Đêm thì mải miết đọc sách, ngày thì thổi sáo đánh cầu, nô nức vui đùa. Cha thường trách móc là trễ nải. Một đêm cha Lộ lẻn vào xem trộm, thấy đèn gần tàn, sách vở chồng chất, Lộ gục xuống án mà ngủ, tay vẫn chưa rời khỏi sách; do đó cha Lộ không còn lo nghĩ nữa. Sau Lộ dự kỳ thi tăng hương thí, đỗ khoa Bạch Liên.

Không bao lâu, cha dùng tà thuật làm phật ý Diên Thành Hầu, Diên Thành sai thiền sư Đại Điên dùng phép thuật đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi tới cầu Quyết (1), đến trước nhà Diên Thành Hầu, thì bỗng nhiên đứng dựng lên suốt một ngày không trôi đi. Diên Thành Hầu sợ hãi liền nói với Đại Điên, Đại Điên đến và hét lên rằng: “Người đi tu không được phép giận quá một ngày”. Dứt lời, thây đổ xuống trôi đi.

Lộ nghĩ việc báo thù cho cha nhưng chưa nghĩ ra mưu kế. Một hôm, rình Đại Điên ra ngoài, định đánh, bỗng nghe thấy trên không trung có tiếng hét ngăn lại “ngừng, ngừng”. Lộ sợ hãi quăng gậy mà đi. Muốn sang nước khác cầu học phép lạ để đánh Điên. Đường đi phải qua đất mọi Kim Xỉ (Răng vàng), thấy hiểm trở nên quay trở về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày niệm chú Đại Bi Tâm Kinh Đà La Ni (2), đọc trọn mười vạn tám ngàn lần. Một hôm, thấy có thần nhân đến trước mặt nói rằng: “Đệ tử là Tứ Trấn Thiên Vương, cảm phục thầy có công đức trì tụng nên lại đây để thầy sai khiến”.

Lộ biết là đạo pháp đã thành, thù cha có thể rửa, bèn thân đến cầu Quyết, cầm gậy chống tay ném xuống dòng nước đang chảy xiết. Gậy đi ngược dòng nước như rùa bò, trôi tới cầu Tây Dương thì dừng lại. Lộ mừng mà nói rằng: “Phép của ta thắng được Đại Điên rồi!”. Bèn đi thẳng đến chỗ Đại Điên ở, thấy Điên thì nói rằng: “Mày không nhớ chuyện ngày trước sao?”. Nói rồi, ngưỡng nhìn lên không trung, không nghe động tĩnh gì, bèn đánh liền. Điên phát bệnh mà chết. Từ đó, thù xưa đã rửa, chuyện lo lắng trong trần tục đã nguội, mới ngao du các miền rừng rú để tìm dấu Phật. Nghe tiếng Kiều Trí Huyền ở chùa Thái Bình, bèn cung kính tới bái yết và hỏi về chân tâm, đọc câu kệ rằng:

Chìm nổi trần ai đâu tiếng kệ
Nơi nào mới ấy thực chân tâm
Mong lời chỉ dạy đường tu đạo
Vạn dặm như không hết khổ tìm (3)

Trí Huyền đọc kệ đáp lại:

Bí quyết trong bầu đấy diệu âm
Có đầy trăng tỏ rõ thiền tâm
Cát sông đấy chính là đường đạo
Tâm hướng Như lai khỏi nhọc tìm (4)

Lộ hoang mang chưa hiểu hết, liền đi tới chùa Pháp Vân, yết kiến thiền sư Sùng Phạm, hỏi rằng “Thế nào là chân tâm? “. Phạm nói: “À, ai mà không có chân tâm”. Lộ bỗng nhiên tỉnh ngộ, hỏi rằng: “Làm thế nào để có chân tâm, để giữ chân tâm?”. Phạm nói: “Đói thì ăn, khát thì uống”. Lộ bái tạ ra về, từ đó phép lực ngày càng thêm mạnh, càng kết duyên với Phật, với thiền. Các giống rắn núi, thú đồng đến quấn quýt bên mình. Lộ đốt ngón tay cầu đảo, chú phép vào nước trị bệnh, không lúc nào không linh nghiệm. Có sư hỏi rằng: “Phải chăng đi, đứng, ngồi, nằm đều là Phật tâm”. Lộ đọc kệ đáp rằng:

Có thì cát bụi có,
Không thì mọi tướng không
Có không trăng dưới nước,
Rõ có nhưng mà không (5)

Rồi nói thêm:

Trời trăng ở đầu núi,
Mọi người mất khối lửa
Người giàu cưỡi lừa ngựa
Đi bộ không cưỡi chó (6)

Khi ấy vua Lý Nhân Tông không có con. Tháng ba năm Hội Tường Đại Khánh thứ 3 (7), có người ở phủ Thanh Hoa tâu lên với vua rằng: “Ở bãi biển Nhữ Châu (8) có đứa trẻ kỳ lạ, mới khoảng lên ba, tự xưng là hoàng đế, hiệu là Giác Hoàng. Phàm bệ hạ làm điều gì, đứa trẻ ấy đều biết cả”. Vua sai quan trung sứ tới xem, thấy đúng như lời nói, bèn đón về kinh sư, cho ở chùa Báo Thiên. Đứa trẻ tên là Giác Hoàng ấy, chính là Đại Điên hóa sinh vậy. Vua thấy đứa trẻ thông minh, rất lấy làm yêu dấu, muốn lập làm Hoàng Thái Tử để kế ngôi. Quần thần đều cố khuyên can, cho là không thỏa, tâu với vua rằng: “Nếu kẻ kia thực là linh dị, tất phải đầu thai vào nơi cung cấm, mới có thể lập lên ngôi được”. Vua nghe theo, bèn mở hội lớn bảy ngày đêm cho đầu thai. Lộ nghe tin, nói với em gái rằng: “Đứa trẻ kia là yêu tà, mê hoặc người ta quá đáng. Ta há chịu ngồi yên mà không cứu, để nó làm mê hoặc lòng người, rối loạn chính pháp sao?”. Rồi sai em gái giả đò đến làm người đi xem hội, bí mật lấy mấy viên ngọc đã được ấn bùa phép đem treo trên chái thềm. Hội mở tới ngày thứ ba thì Giác Hoàng bị bệnh, nói với mọi người rằng: “Khắp nơi đều có lưới sắt bao bọc, không có đường để đầu thai vào trong cung cấm được”. Vua nghi là bùa phép của Lộ, bèn sai người đi tìm, quả nhiên tìm thấy. Vua cho bắt trói Lộ ở lầu Hưng Thánh, họp quần thần lại để xét xử. Vừa lúc đó, Sùng Hiền Hầu (em trai của vua) đi ngang qua, Lộ năn nỉ nói: “Xin ra sức cứu bần tăng khỏi phải chịu tội, ngày sau xin đầu thai vào trong cung cấm để báo đáp công đức này”. Sùng Hiền Hầu gật đầu, khi họp bàn thì nói rằng: “Bệ hạ không có con, nên cầu trẻ này đầu thai, thế mà tên Lộ cuồng dại kia lại dám tự ý phá giải bùa phép, tội lớn thật đáng đem ra chặt đầu để tạ ơn mọi người”. Hầu tâu riêng với vua rằng: “Thiết tưởng nếu Giác Hoàng có thần lực thì tuy có tên Lộ phá giải bùa phép, há đâu có làm hại được chăng?. Nay thần thấy trái lại, thấy Lộ hơn hẳn Giác Hoàng. Thần trộm nghĩ nếu như giết Lộ, chẳng thà cho nó đầu thai” (9) . Vua bằng lòng.

Từ Đạo Hạnh


Lộ đến nhà Hầu để cảm tạ, nhìn vào chỗ phu nhân của Hầu, người họ Đỗ đang tắm. Phu nhân giận quá, mách với Hầu. Hầu vốn hiểu ý, nên để mặc không trách. Lộ dặn Hầu rằng: “Đến lúc phu nhân sinh nở phải báo cho Lộ biết trước”. Quả nhiên hai năm sau, phu nhân mang thai. Đến lúc sinh nở, Hầu nhớ lời Lộ nói lúc trước, liền cho người đến báo tin. Lộ bèn tắm rửa, thay quần áo và nói với học trò rằng: “Căn trần của ta chưa dứt, phải thác sinh ở đời lần nữa, tạm làm vương đế. Đến khi già chết thì đã làm vua được 23 năm (10). Nếu thấy thân thể ta hư nát, đó là ta đã nhập vào nơi bùn đất, không còn ở trong cõi sống chết nữa”. Học trò nghe nói, ai cũng cảm động sụt sùi. Lộ đọc bài kệ rằng:

Thu tới mà không có nhạn bay,
Nhạt cười nhân thế khổ lòng thay.
Sãi sư chớ có đem lòng tiếc,
Mấy độ thầy xưa là thầy nay (11)

Đọc kệ xong, thân thể hư nát trong hõm đá mà mất. Phu nhân của Sùng Hiền Hầu liền sinh hạ được một đứa con trai, đặt tên là Dương Hoán. Khi lên ba, vua Nhân Tông nuôi ở trong cung, lập làm Hoàng Thái Tử. Vua Nhân Tông mất, Thái Tử lên ngôi, ấy là vua Thần Tông. Chính là do Lộ thác sinh ra vậy.

Dân làng thấy điều linh dị, đem xác Lộ về thờ phụng ở khám thờ. Hình xác Lộ nay còn ở hõm đá trong chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai.

Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng, đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh (12), hiệu là Minh Không thiền sư. Lúc còn nhỏ tuổi từng đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn bốn mươi năm. Đạo Hạnh thấy người có ý chí bèn truyền tâm ấn, và đặt tên cho. Đến khi Đạo Hạnh sắp tạ thế, bảo Minh Không rằng: “Xưa tôn sư của ta tu đã tròn đạo quả mà còn bị quả báo nạn đao thương, huống chi ta đạo quả nhỏ nhoi, há có thể tự giữ mình được sao?. Ta nay thác sinh ở trần gian, ở cái địa vị làm thầy người ta, kiếp sau nợ bệnh tật khó tránh nổi. Ta với ngươi có duyên nợ, nên cứu giúp nhau”. Đạo Hạnh đã mất, Minh Không trở về chùa cũ mười năm, không có tin tức gì.

Khi đó Lý Thần Tông bỗng mắc bệnh lạ, kêu la đau đớn, gầm rú đáng sợ. Thầy thuốc trong thiên hạ vâng chiếu đến chữa, kể đã hàng ngàn, đều chịu khoanh tay. Khi ấy, có trẻ con hát rằng: “Muốn trị bệnh cho vua, phải tìm tới Nguyễn Minh Không”. Triều đình bèn sai sứ tìm gặp Minh Không. Khi Minh Không đến, có nhiều người vâng chiếu chỉ đang làm phép trên điện thấy Minh Không quê mùa, không thèm chào. Minh Không bèn lấy một chiếc đinh lớn dài hơn năm tấc, đóng vào cột điện, lớn tiếng nói rằng: “Ai nhổ được đinh này, mới được chữa bệnh”. Nói như vậy hai ba lần, không có ai dám lên tiếng trả lời. Minh Không bèn lấy hai ngón tay trái mà nhổ, đinh bật phăng ra, mọi người đều kinh ngạc, thán phục. Khi vào xem bệnh Thần Tông, Minh Không liền lớn tiếng nói: “Kẻ đại trượng phu được tôn lên ngôi thiên tử, giàu có khắp bốn bể, cớ sao còn phát bệnh cuồng loạn như vậy?”. Vua nghe nói rất run sợ. Minh Không cho lấy một cái vạc đựng dầu, đun lên sôi sùng sục, rồi lấy tay khoắng vào mấy lần, rắc vảy lên khắp mình vua, bệnh lành tức thì. Vua bèn phong cho Minh Không làm quốc sư, ban lộc mấy trăm hộ để thưởng công. Năm Tân Sửu, niên hiệu Thái Bình thứ 2 (13), Minh Không mất, thọ bảy mươi sáu tuổi.

Còn có truyện khác về Minh Không như sau:

Đến thánh Nguyễn Minh Không, ở Gia Viễn, Ninh Bình


Ở chùa Không Lộ, làng Giao Thủy, có vị sư tên là Minh Không. Vào đời Trị Bình (14) xuất gia trụ trì chùa này, nổi tiếng là đức độ. Một hôm Minh Không từ ngoài đi vào trong chùa. Có vị sư giỡn núp sau cửa, giả làm tiếng cọp nhảy ra hù dọa Minh Không. Minh Không cười nói rằng: “À, tu hành như ông, định làm cọp hả, chắc ta phải cứu ngươi mới được”. Vài năm sau, vị sư này chết hóa thành Thái Tử vua họ Lý. Mấy năm sau, Thái tử bỗng nhiên lông mọc đầy người, gầm rú la hét trông như cọp dữ. Vua cho tìm đủ thầy thuốc, sư tăng đến chữa, nhưng ai nấy đều phải bó tay. Nghe rằng Minh Không có phép thuật, vua cho người đưa thuyền đến rước sư. Sư lấy nồi cơm nhỏ, nấu cơm cho lính chèo thuyền ăn. Sứ giả cười bảo rằng: “Người đông quá, sợ không đủ no bụng”. Minh Không bảo rằng: “Không sao, cứ ăn, hãy xem lòng thành của ta”. Như thế, cả 40, 50 người lính chèo ăn hoài không hết, mọi người đều cho làm lạ. Chiều tối, trước khi lên đường, sư lại bảo: “Mọi người hãy ngủ say một giấc, đợi khi trời sáng, ta gọi dậy, rồi hãy bắt đầu chèo thuyền về. Nếu không, thì ta không đi”. Sứ giả giả vờ ngủ say trên thuyền, nhưng cảm thấy tiếng gió rít lạnh ở khoang thuyền. Trời sáng, sư gọi dậy, thuyền đã về tới kinh đô rồi. Minh Không bèn bay lên không trung vào trong cung cấm, nấu dầu rửa sạch lông mọc trên người cho Thái Tử. Thái Tử hỏi nguyên do, sư trả lời rằng: “Kẻ tu hành thương người mê lầm, thành tâm rửa ráy mà thôi, không khó, không khó gì cả”. Thái Tử lại hỏi: “Sư có thần thông, có thể bay đi trên không, phải không?”, sư nói rằng: “Không phải, thần có bệnh đi như gió, đi nhanh không vết không tích, không biết vì sao, thế nên cứ đi vậy, chẳng có thần thông gì cả”. Thái Tử cho Minh Không trở về. Ban cho lễ vật thì Minh Không không nhận, Thái Tử liền ban cho tước hiệu là Thần tăng để khen thưởng (15). Vì thế nên mới có tên chùa Không Lộ. Sau Thái Tử lên làm vua, tên thụy là Thần Tông. Lúc ấy, trẻ con hát như sau:

Lạ thay Lý Thần Tông
Triều chính việc không thông
Trị bệnh cho Thiên tử
Phải nhờ Nguyễn Minh Không (16)

Chú thích:

1) Bản A 2914 viết là cầu Quyết Châu

2) Chú Đại Bi Tâm Kinh Đà La Ni: tức Chú Đại Bi (Great Compassion Mantra – – 大悲咒), một trong những bài chú quan trọng, thường được tụng đọc trong các chùa phái Đại Thừa ở Việt Nam.

3) Nguyên bản chữ Hán trong sách

久混風塵未識音
不知何處是真心
願乘指引開方便
萬里如無斷苦尋

(Cửu hỗn phong trần vị thức âm
Bất tri hà xứ thị chân tâm
Nguyện thừa chỉ dẫn khai phương tiện
Vạn lý như vô đoạn khổ tầm)

4) Nguyên bản chữ Hán trong sách

玉瓢秘訣演真音
個中滿月露蟬心
河沙竟是菩提道
擬向菩提隔萬尋

(Ngọc biều mật quyết diễn chân âm
Cá trung mãn nguyệt lộ thiền tâm
Hà sa cánh thị Bồ đề đạo
Nghĩ hướng Bồ đề cách vạn tầm)

5) Nguyên bản chữ Hán trong sách

作有塵沙有
為空一相空
有空如水月
勿着是空空

(Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất tướng không
Hữu không nhu thủy nguyệt
Vật trước thị không không)

6) Nguyên bản chữ Hán trong sách

(日月出岩頭
人人失火珠
富有乘驢子
行步不騎狗

(Nhật nguyệt xuất nham đầu
Nhân nhân thất hỏa châu
Phú hữu thừa lư tử
Hành bộ bất kỵ cẩu)

7) Hội Tường Đại Khánh thứ 3 tức năm Nhâm Thìn (1112) niên hiệu đời vua L ý Nhân Tông.

8 ) Bản VHV 1473 viết là “sa châu (bãi cát)”

9) Theo Việt Sử Lược, đoạn này được chép như sau: Năm Nhâm Thìn (1112) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 3, mùa xuân, tháng giêng, có mưa rơi xuống đúng lúc cần. Tháng 2, người ở Thanh Hóa nói, ở bờ biển có đứa bé dị thường, mới 3 tuổi mà biết nói, tự xưng là con của vua, tên là Giác Hoàng. Việc gì của nhà vua nó cũng đều biết cả. Vua sai quan Trung Sứ đến hỏi, Giác Hoàng nói đều đúng cả, bèn rước về cho ở tại chùa Báo Thiên. Nhà vua thấy sự lạ thường ấy nên càng thương mến Giác Hoàng nhiều hơn. Bấy giờ, vua không có con nối dõi, muốn lập Giác Hoàng làm Thái Tử nhưng quần thần không chịu, đành thôi. Rồi vua lại bày ra hội chay ở trong cung cấm, muốn cầu Giác Hoàng chết đầu thai hóa làm con mình. Khi ấy, có bậc thiền sư ở núi Phật Tích là Từ Lộ Đạo Hạnh nghe vậy thì không vui. Từ Lộ bèn nhờ chị của ngài là Từ Thị đến dự hội. Từ Lộ bí mật lấy mấy viên ngọc đã được ấn bùa phép trao cho và dặn rằng: “Đến nơi đó thì giấu mấy hạt ngọc này sau chái thềm, đừng để cho người ta thấy”. Từ Thị làm theo như lời dặn ấy. Giác Hoàng bổng nhiên bị sốt và nói với người ta rằng: “Tôi thấy đầy khắp nơi nơi đều có lưới sắt bao bọc, không có đường để thác sinh vào ở trong cung nữa”. Nhà vua sai lục soát kỷ lưỡng thì bắt được mấy viên ngọc của Từ Thị cất giấu. Bèn bắt giữ Từ Lộ, trói ở mái hiên Hưng Thánh và định giết chết. Gặp Sùng Hiền Hầu vào chầu vua, Từ Lộ kêu than rằng “Xin Hiền Hầu hết lòng cứu bần tăng, nếu may bần tăng thoát được nạn thì sẽ đầu thai làm con ngài để đền đáp ơn này”. Hiền Hầu nghe lời, hứa cứu giúp, rồi vào cung gặp vua biện bạch đủ mọi lý lẽ. Hiền hầu nói rằng: “Giác Hoàng có thần lực thật đấy, mà còn bị Từ Lộ cản trở thì đó là Từ Lộ thắng Giác Hoàng. Sự việc rõ rệt như thế thì không gì bằng cho Từ Lộ thác sinh”. Vua tha cho Từ Lộ. Giác Hoàng bệnh nguy kịch, mới dặn bảo rằng: “Sau khi tôi chết nên xây cái tháp ở núi Tiên Du để chôn cất”. Mùa hạ, tháng 4, được dâng cỏ chi, hoa ưu đàm và quạ trắng. Mùa thu, tháng 9, rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Quang. Mùa đông, tháng 10, rồng đen hiện ra ở trong cung. (Nguyễn Hữu Vinh dịch)

10) Bản A 2914 chép rằng: “Đến khi già chết thì đã làm Thái Tử từ năm 33 tuổi”

11) Nguyên bản chữ Hán trong sách

秋來不報雁來歸
冷笑人間暫告悲
為報門人休眷戀
古師幾度作今師

(Thu lai bất báo nhạn lai quy
Lãnh tiếu nhân gian tạm cáo bi
Vi báo môn nhân hưu quyến luyến
Cổ sư kỷ độ tác kim sư)

12) Bản VHV 1473 viết là “ chùa Ngọc Thanh 玉清寺

13) Không rõ là năm nào

14) Không rõ là năm nào

15) Bản VHV 1473 viết thêm 1 đoạn:

Mùa hạ tháng sáu, năm Bính Thân năm thứ 7 đời Lý Nhân Tông, Sư Từ Đạo Hạnh mất ở chùa trong núi Thạch Bảo. Dân làng thấy điều linh dị, đem xác Lộ về thờ phụng ở khám thờ. Nay chính là ở núi Phật Tích. Mỗi năm đến mùa xuân ngày 7 tháng 3, nam nữ tụ họp về chùa, ngao du thắng cảnh. Người đời sau lấy ngày này làm ngày kỵ của sư. Xác của sư Từ Đạo Hạnh bị người Minh đốt cháy vào thời Vĩnh Lạc (Dịch giả: Vĩnh Lạc là niên hiệu của Minh Thành Tổ, Trung Quốc (1403-1424, Việt Nam ở vào thời Minh thuộc)). Người làng bèn đúc tượng, cúng bái như xưa, này vẫn còn.

16) Nguyên bản chữ Hán trong sách

(異哉李神宗
朝庭事莫通
欲蘇天子病
須得阮明空

(Dị tai Lý Thần Tông
Triều đình sự mạc thông
Dục tô Thiên tử bệnh
Tu đắc Nguyễn Minh không)

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)

Bình:

Tượng thánh Nguyễn Minh Không, chùa Bãi Đính, Ninh Bình


• Bài này nói đến tiến trình Phật pháp thấm sâu vào nước ta. Đoạn đầu là đoạn mọi người chưa hiểu Phật pháp, hiểu theo cách mê tín dị đoan, xem Phật pháp là các tà thuật đánh nhau và giết người. Đoạn sau là đoạn tìm Phật pháp chính thống.

• Đoạn đầu nói đến cha của Từ Đạo Hạnh bị “thiền sư” Đại Điên dùng pháp thuật đánh chết, xác dựng đứng ngay trước cửa nhà Diên Thành Hầu. Rổi Từ Đạo Hạnh học pháp thuật đến khi đạo pháp đã thành, giết thiền sư Đạo Điên trả thù cha.

Đoạn này rất mê tín dị đoan và chẳng có tí Phật pháp nào. “Trả thù” là ý niệm 100% đối chọi với Phật pháp “vô chấp” (xả bỏ). Trả thù là ý niệm của hủ nho Trung quốc, mà ta vẫn thường thấy ngày nay trong các truyện kiếm hiệp—Quân tử trả thù 10 năm vẫn chưa muộn. Có “xả bỏ” tí nào đâu!

Và các “thiền sư” dùng pháp thuật giết nhau, đây là mê tín dị doan để lừa bịp người dốt nát; chẳng thiền một tí nào. Phật pháp chẳng có pháp giết người. Cũng chẳng có pháp đằng vân giá vũ như trong phim thần thoại Ấn độ hay Tề thiên đại thánh. Hơn nữa cấm sát sinh là giới số 1 trong các giới phải giữ của Phật gia.

Đọc Chú Đại Bi tức là Kinh Chú cầu tâm yêu thương vĩ đại của Quán Thế Âm Bồ-tát mà lại sinh ra pháp thuật giết người thì tội cho Kinh và tội cho Đức Quán Thế Âm quá!

Tiến tình phát triển của mọi tôn giáo đều có đoạn mê tín dị đoan này. Có lẽ là những người ít học thích tin vào các quyền lực thần thoại như thế cho nên luôn có người thích thêu dệt thêm để “giảng đạo”. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một trong các ví dụ dùng thần thoại để giảng đạo cho đám bình dân. Đoạn đầu kinh này nghe như phim thần thoại Ấn Độ, rất hợp với đầu óc của đám bình dân, nhưng các hình ảnh thần thoại đó thực ra có ý nghĩa triết l‎ý sâu xa cho người trí thức. Tuy nhiên, tôn giáo nào cũng có những khúc thần thoại hóa mà chẳng mang triết l‎ý sâu xa nào cả.

• Cây gậy của Từ Đạo Hạnh là biểu tượng Phật pháp, ta luôn thấy với hình ảnh của Phật Di Lặc (hotei ở Nhật) đeo bị gậy cười hí hửng, thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma mang gậy gánh một chiếc dép, nón và gậy của Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Gậy đi ngược dòng sông chậm như rùa là biểu tượng của pháp nhân quả, đi ngược về quá khứ (của Đại Điên) và bắt hắn nhận “quả” của cái “nhân” giết người đã gieo nhiều năm trước. Vận tốc “chậm như rùa” là vận tốc ta thường thấy của luật nhân quả. Thường thường ta làm gì hôm nay, không thấy hậu quả ngày mai ngay lập tức. Phải nhiều năm sau, chậm như rùa, hậu quả mới trở lại tìm ta trả.

Dù là có tí Phật pháp ở đây, Phật pháp vẫn bị hiểu lầm một cách mê tín như là phép cho người ta trả thù và giết người. Nhân quả là luật tự nhiên, không phải là luật trả thù cá nhân. Và Phật pháp dạy hận thù bên cởi, không nên buộc.

• Đoạn sau là đoạn về việc Từ Đạo Hạnh tìm học Phật pháp chính thống, thay vì các điều mê tín dị đoan của đoạn trước. Dù vậy đoạn này vẫn còn một ít mê tín dị đoan tồn tại.

Khi Từ Đạo Hạnh hỏi về Phật pháp Kiều Trí Huyền trả lời:

Bí quyết trong bầu đấy diệu âm
Có đầy trăng tỏ rõ thiền tâm
Cát sông đấy chính là đường đạo
Tâm hướng Như lai khỏi nhọc tìm

Bài này, có nhiều bản hơi khác nhau, và bản dùng trong các sách thiền cũng hơi khác bản ta có đây.

“Bí quyết trong bầu ấy diệu âm”—tức là tiếng nói huyền diệu của Không, của tĩnh lặng. Bầu là biểu tượng của Không, của tĩnh lặng.

“Có đầy trăng tỏ rõ thiền tâm.” Đầy trăng là trăng tròn, là biểu tượng của giác ngộ, của tâm nguyên thủy sáng ngời—thiền tâm–của chính mỗi người chúng ta.

Tức là, khi ta tĩnh lặng hoàn toàn, tâm ta trở lại trạng thái trong sáng nguyên thủy của nó. Đó là đạo, là giác ngộ.

“Cát sông đấy chính là đường đạo”. Tức là, đường đạo là đường sống trong cõi hồng trần gió cát này, chứ chẳng đâu xa mà tìm.

“Tâm hướng Như Lai khỏi nhọc tìm”. Tức là, sống trong đời bụi bặm nhưng tâm hướng về Như Lai thì khỏi mất công tìm đạo ở đâu xa.

• Có sư hỏi rằng: “Phải chăng đi, đứng, ngồi, nằm đều là Phật tâm”. Lộ đọc kệ đáp rằng:

Có thì cát bụi có,
Không thì mọi tướng không
Có không trăng dưới nước,
Rõ có nhưng mà không

Hỏi “Phải chăng đi, đứng, ngồi, nằm đều là Phật tâm?” Câu trả lời đương nhiên là “Cái đó còn tùy. Đi đứng ngồi nằm mà chỉ tính chuyện ăn cướp thì sao là Phật tâm được?”

Phật tâm là nắm được bản chất của mọi sự: Mọi sự đều là có, và cũng đều là không. Có mà không. Không mà có. Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. (Bát Nhã Tâm Kinh).

(Các bạn độc giả nên suy gẫm hai từ “có/không” qua hai đợt tư duy. Đợt đầu, có và không đều là tĩnh từ. Đợt sau, có và không đều là danh từ. Xin đọc thêm trong Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh ).

• “Trời trăng ở đầu núi, mọi người mất khối lửa”: Câu này rất rõ là con người si mê nên quên mất đi Phật tính nguyên thủy trong sáng của mình như trời và trăng

“Người giàu cưỡi lừa ngựa, đi bộ không cưỡi chó”. Hai câu này ta không chắc nghĩa là gì. Có thể ý nói mỗi người phải tự nỗ lực tìm đạo tu đạo cho mình, không thể nhờ người khác đi dùm được (tức là không cưỡi con gì cả, kể cả chó).

• Việc Đại Điên hóa sinh thành đứa bé và Từ Đạo Hạnh hóa sinh thành Dương Hoán, con của Sùng Hiền Hầu, sau lên làm vua, có tính cách mê tín dị đoan rất nặng. Không phải là Phật pháp. Nếu các thiền sư có thể đầu thai vào đâu tùy ý như thế thì ta phải chấp nhận là đa số các vị lãnh đạo (đại tham nhũng) tại các quốc gia là thiền sư tái sinh, vì có lẽ cách hợp lý nhất để tái sinh là tái sinh vào nơi quyền lực để “cứu vớt đồng bào”. Hơn nữa, luật nhân quả là luật không ai có thể thay đổi, lại được sử dụng bởi các thiền sư trong truyện này dễ như ăn phở, kể cả các thiền sư đã từng đánh nhau, giết người gian ác như Đại Điên! Lại còn có việc tranh nhau vào đầu thai chỗ mình thích nữa!

Thu tới mà không có nhạn bay,
Nhạt cười nhân thế khổ lòng thay.
Sãi sư chớ có đem lòng tiếc,
Mấy độ thầy xưa là thầy nay

Bài kệ này nói sống chết là chuyện tự nhiên, có sống thì có chết, như thu thì có nhạn bay, và thầy khi xưa thì chẳng còn ai sống sót để làm thầy ngày nay.

Nguyễn Minh Không là L‎y’ Quốc Sư Nguyễn Chí Thành, sau khi đi tu mở chùa lấy tên là Nguyễn Minh Không. Minh Không có nghĩ là “sáng suốt về Không.”

Chuyện vua Lý Thần Tông mắc bệnh gầm rú như hổ phải được Minh Không chữa trị là biểu tượng của sự si mê cuồng loạn của tâm thức con người, phải được chữa trị bằng am tường lẽ Không của vũ trụ.

Hình ảnh Minh Không nhổ cây đinh trong trụ ra bằng hai ngón tay trái là biểu tượng của phá chấp. Đinh dính cứng vào cột là chấp. Tay trái là tay phía quả tim, là biểu tượng của tâm. Hai ngón tay là biểu tượng của phá “chấp có” cũng như phá “chấp không”—không chấp vào phía nào; con đường Trung đạo của Phật pháp.

Vạc dầu là biểu tượng của hình phạt tử hình ngày trước. Tắm rửa bằng dầu nấu trong vạc dầu là biểu tượng con người cũ si mê đã chết và con người mới liễu ngộ đã tái sinh.

(Trần Đình Hoành bình)

Advertisements

Tháng Năm 21, 2010 - Posted by | Buddhism, Lĩnh Nam Chích Quái, Thiền, Văn Hóa | , , , ,

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: