TRẦN ĐÌNH HOÀNH

on Buddhism

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Phạm Tử Hư

Lều chõng đi thi

Vào thòi Lý Huệ Tông (1), có người tên Tử Hư ở xã Nghĩa Lư, huyện Cẩm Giàng, gia đình bần hàn, dời nhà sang sinh sống ở làng Hoa Phong. Lúc nhỏ mồ côi, theo thầy là Dương Trạm (tự là Công Trực), Tử Hư rất ham học, thông minh, hiếu kính và vâng lời dạy bảo của thầy.

Khi Công Trực mất, con còn nhỏ dại, không có tiền để làm đám tang. Tử Hư về nói với mẹ rằng: “Nhà thầy nghèo, con cái còn bé. Nhà ta còn được mấy mẫu ruộng?”. Mẹ nói: “Nhà ta để lại cho con tất cả 6 sào ruộng”. Tử Hư vừa khóc vừa xin với mẹ rằng: “ Xin mẹ đem bán đi 2 sào, lấy tiền giúp đỡ nhà thầy”. Bà mẹ cũng khóc theo, rồi đem bán 2 sào ruộng được tất cả 30 quan tiền. Tử Hư liền đem đến giúp đỡ việc tang ma. Lại cho dựng lều bên mộ thầy, ngày đêm hương đèn cúng vái xong đến 3 năm mới trở về nhà.

Đến khoa thi năm Giáp Tý thì thi đỗ đệ tam trường. Khoa Đinh Mão đậu đệ tứ trường. Đến tháng 12 cuối năm đó, Tử Hử từ nhà ra kinh đô dự thi, đến chùa Trấn Võ gặp lúc nắng hạn, vào chùa tạm nghỉ thì bỗng nhiên gặp Công Trực ngồi trong chùa. Tủ Hư kinh sợ, vừa khóc vừa lạy nói: “Thầy quy tiên đã hơn 7, 8 năm rồi, không hiểu tại sao lại gặp được thầy ở đây”. Thầy nói rằng; “Tử Hư có nghĩa với ta, nên ta đến gặp”. Tử Hư khóc nói rằng: “Ngày thầy quy tiên, nhà con cũng nghèo, chẳng có gì làm lễ vật. Hôm nay, gặp thầy vẫn thấy thầy cũng tay không. Như thế , con có nghĩa cả gì đâu!”. Thầy lại nói: “Này, Tử Hư, ta sinh thời sống công bằng ngay thẳng, chết rồi Thượng Đế cho làm Phán Quan (2) và Tri Cống Cử (3)… Tử Hư hỏi: “Thầy biết số mạng của con sau này ra sao?”. Thầy trả lời: “Hôm nay thì chưa biết được, con về đi. Đến ngày 28 tháng 12 năm sau, lại đến chùa này, ta sẽ nói cho biết”. Tử Hư lạy tạ về nhà, ngày đêm suy ngẫm, tin tưởng y như lời nói thật vậy.

Đến ngày này năm sau, Tử Hư nói với mẹ rằng: “Con lên kinh đô có việc gấp”, rồi chuẩn bị rượu thịt lên đường đến chùa thì gặp ngay thầy Công Trực cùng với các đệ tử khác đã ngồi trong chùa. Tử Hư cúi đầu vái lạy, bày rượu thịt ra mời, cùng ăn uống với các sư đệ. Thày thôi thúc nói: “Con hãy cởi áo đưa cho sư đệ đi, rồi lấy áo của sư đệ mặc vào”. Rồi cùng với thầy lên thượng giới trong giấc ngủ. Đến chỗ của Nam Tào, Bắc Đẩu làm việc thấy có 1 người mặc áo màu tía, Nam Tào và Bắc Bắc Đầu ngồi hai bên. Thầy cũng đến ngồi phía dưới người này cùng luận đàm với họ về việc học hành, đức hạnh của các sĩ tử đi thi để quyết định ghi tên họ vào trong bảng vàng hay không. Khi nói về tài văn chương của Trần Thái ở Quế Dương, thì Nam Tào nói rằng: “Trần Thái có tài về văn chương, nhưng không có đức hạnh mà cha mẹ cũng không đức, nên không cho thi đỗ”. Hay là, khi bàn về văn học của 1 người Tây Lão, Nam Tào nói: “Người này có tài văn chương song lại kiêu ngạo, mà người vợ lạ không tốt, nên không cho thi đỗ”. Còn như Phạm Công Bằng ở An Lạc thì tổ tiên có âm đức, cha mẹ hiền đức, nên được đỗ đầu làm Trạng Nguyên. Nguyễn Viết Chất ở Phượng Sơn, văn tài tạm được nhưng đức hạnh cũng tốt, nên được đỗ thứ nhì làm Bảng Nhãn. Người ở Thượng Hiền tên là Vương Văn Hiệu dù văn tài hơi thấp nhưng đức hạnh lại khá nên cho đỗ hạng thứ ba làm Thám Hoa. Như vậy là người nào đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa đã luận bàn xong xuôi. Còn như Dương Chánh người làng Thượng Phúc, dù văn tài chưa khá lắm song mẹ và vợ đều là người có đức hạnh, dù nghèo song hiếu đạo nên cho đỗ hạng thứ 4 làm Hoàng Giáp. Như vậy tất cả có 40 người được cho đỗ, ghi tên vào bảng vàng. Phán Quan đề cử người ở Hoa Phong tên Tử Hư, là người văn tài nên đem ra xem xét. Nhưng Nam Tào nói rằng: “Tử Hư dù giỏi song kiêu ngạo, không cho được thi đỗ”. Phán Quan nói rằng: “Tử Hư tuổi còn nhỏ dù hơi kiêu, song không làm hại người”. Người mặc áo tía nói rằng: “Tử Hư còn nhỏ mất cha, mẹ tính người đức hạnh, có nghĩa với Phán Quan nên có thể tha thứ được”. Thế nên cho Tử Hư đỗ vào hạng bổ túc vậy. Rồi cho Tử Hư vào bảng hạng ở dưới 40 người và treo bảng ở cửa hoàng thành. Bắc Đẩu nói rằng: “Đem Tử Hư vào bảng ở dưới hạng thứ 40, sợ e làm lộn xộn thứ tự”. Nhưng quan mặc áo đỏ nói: “Ta đã ghi hai chữ làm dấu ở đó, không có gì là lộn xộn cả”.

Đến năm sau Mậu Thìn tháng 3, Tử Hư vào dự thi đệ nhất trường, viết bài hơi lâu. Quan chủ khảo giữ bài thi lại khoảng 3, 4 ngày. Đêm đến, thầy lại thác mộng với quan Khâm Sai Đại Thần nói rằng: “Có Tiến Sĩ đem bài đến”. Sáng ngày mai, quan trường thi tìm thấy có một bài để công đường, liền đem vào chấm điểm và được đậu cao vào đệ nhất trường. Đến kỳ thi đệ tứ trường, văn phong của Tư Hư hay, điển tích tốt, đáng được đỗ cao, nhưng vì có viết 2 chữ không đúng, nên không được ghi tên đỗ vào trong bảng 40 người được thi đỗ. Quan trường thi tâu lên vua để xin yết bảng vàng thì vua nói rằng: “Mỗi khoa thi phải lấy đúng 50 người, nay bảng này chỉ có 40 người là không được”. Sau, quan trường thi quyết định tìm bài thi nào văn hay, chữ tốt, có chữ viết sai cũng được và xét thêm 1 bài. Bài của Tư Hư được ghi thêm vào dưới hàng trong bảng 40 người. Đúng là ý trời vậy.

Tử Hư làm quan trải qua nhiều chức quan lớn, cho đến chức cao nhất là “Tán Trị Dực Vận Công Thần”, được đặt cách vào là Thượng Thư Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Ngọc Đái Kim Ngư Tham Tùng ở bộ Lại, kiêm quản Lục bộ Ngự Sử Đài, tước Trinh Quốc Công, được tặng Thái Tể và phong làm Trung Trinh Đại Vương, và là Thượng Đẳng thần ở làng Hoa Phong. Tử Hư sinh được 3 người con, hai người cư ngụ ở đất Hoa Phong, còn 1 người thì về ở Nghĩa Lư. Ông là ông nội của Phạm Văn Tuấn và là tằng tổ của Phạm Văn Hoán. Con cháu đông đúc, nối nghiệp đời đời,

Ai mà không tin câu nói “Nhà làm việc thiện việc lành, tất có nhiều chuyện mừng vui” (4) ở trong kinh Dịch! Nay ghi lại truyện này để lưu truyền hậu thế, để mọi người tai nghe mắt thấy, tâm thông thần đạt, cố gắng học hành đỗ đạt giữ lại tiếng thơm muôn đời.

Chú Thích:

1) Lý Huệ Tông: Tên húy là Sảm, trị vì từ năm 1211 đến năm 1223, là cha của vua Lý Chiêu Hoàng. Lý Chiêu Hoàng sau lấy Trần Cảnh và nhường ngôi. Vì thế, nhà Lý mất về tay nhà Trần

2) Phán quan: Chức quan tòa ở âm phủ, chuyên trừng phạt kẻ gian, tuyên dương khích lệ người tốt.

3) Tri Cống Cử: Vị quan đặt quyền về thi cử, thường là quan lớn tiếng tăm, đức độ trong triều nắm giữ. Các thời đại Trung Quốc thường có đặt thêm quan Tri Cống Cử để xem xét, trợ giúp việc thi cử cho được công bằng, chính xác.

4) 積善之家必有餘慶

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)

Bình:

• Đây là triết lý về giáo dục và tuyển lựa nhân tài thuở trước. Bài này cho thấy rất rõ là các chuẩn mực đạo đức đóng vai trò quyết định trong việc chọn nhân tài. Người ta hay nói là chọn người “tài và đức” như là đây là hai điều ngang nhau. Nhưng theo tinh thần bài này thì đức quan trọng hơn tài và đóng vai quyết định.

• Hơn nữa, vấn đề thi cử được quyết định từ trời, dựa trên đức. Có nghĩa là đối với thí sinh, nhìn theo khía cạnh đời sống này, thì thi cử rất là may rủi. Thí sinh không thể dựa vào tài để được thi đỗ, vì kết quả đã được các quý vị trên trời tính trước. Cũng có thể đây là cách l‎ý giải kiểu chấm thi chủ quan ngày xưa, giám khảo chấm thế nào thì đành chịu vậy chứ không có cách chấm thi khách quan nào.

• Và có lẽ là trong khi chấm bài thi, giám khảo cũng đọc khẩu khí của thí sinh để xem người này đức hạnh thế nào—khiêm tốn hay kiêu căng, nhân ái hay hung tợn—để cho điểm.

(Trần Đình Hoành bình)

Tháng Mười 22, 2010 - Posted by | Lĩnh Nam Chích Quái, Văn Hóa | ,

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: