TRẦN ĐÌNH HOÀNH

on Buddhism

Thực hành từ tâm

compassion

    Yêu láng giềng như yêu chính mình

      Jesus of Nazareth

    Tâm từ khi được khéo tu,
    Làm cho trói buộc bị mau yếu dần.
    Không còn dấu vết tham sân,
    Niết bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

      Kinh Từ Tâm

Chào các bạn,

Từ tâm, từ bi, lòng từ, bác ái, nhân ái… tất cả đều nói đến yêu người. Chúng ta đều thấy, mọi vị thầy lớn của thế giới, dù dùng ngôn ngữ nào, loại l‎ý luận nào, ở vùng địa lý nào, vào thời khoảng nào… đều đặt trọng tâm thuyết giảng của mình vào một điểm—yêu người.

Và đương nhiên khỏi cần thầy nào dạy, chúng ta cũng biết là thế giới này sẽ thành thiên đàng nếu mọi người yêu nhau. Tình yêu là cái nền của vũ trụ, trên đó mọi sự, mọi thứ, và mọi người, đứng vững, cùng với nhau. Thiếu tình yêu, tất cả đều rời rã và tan biến.

Trong bài này chúng ta sẽ lượt qua nền tảng l‎ý thuyết căn bản của “yêu người” của ba trường phái—Thiên chúa giáo, Phật giáo, và chủ nghĩa lợi ích (không tôn giáo). Sau đó chúng ta sẽ nói đến cách thực hành “lòng từ” của Đại Sư Phật Âm, là một phương cách rất khoa học, mọi trường phái để có thể dùng được.

I. Căn Bản của Yêu Người

1. Yêu người trong Thiên chúa giáo:

Mother Mary
Chúa Giêsu nói: “Yêu Chúa, Thượng đế của bạn, với cả trái tim, cả linh hồn, cả khối óc của bạn. Đây là điều răn đầu và quan trọng nhất. Và điều răn thứ hai như thế này: Yêu láng giềng của bạn như yêu chính bạn.” Matthews 22:37-38.

Câu nói đó được gọi là Luật Vàng (The Golden Rule). Người Thiên chúa giáo yêu người vì Chúa bảo thế. Đây là luật từ trời. Thực ra luật này đã có tối thiểu là từ thời Moses, trước Chúa Giêsu khoảng 1500 năm. Leviticus 19:18. Giêsu chỉ lập lại một cách rất ngắn gọn mà thôi.

Và Luật Vàng có hai vế: Vế đầu là yêu chúa. Vế sau mới là yêu người. Yêu người vì yêu chúa, và vì chúa bảo “yêu người.”

Ở đây, lòng tin vào chúa rất quan trọng. Nếu không tin chúa (vế đầu), thì chẳng lý do gì phải nghe lệnh chúa “yêu người” (ở vế sau).

Và Luật Vàng dạy yêu người—chứ không nói thêm là người tốt hay xấu, có học hay không có học, du côn hay tử tế, thiện hay ác, thân hay sơ, bạn hay thù… “Yêu người” ở đây là yêu tất cả mọi người, kể cả người xấu, người tội lỗi, người ức hiếp, kẻ thù ta… Cho nên, tình yêu trong Thiên chúa giáo gọi là “Tình yêu vô điều kiện” (unconditional love).

2. Yêu người trong Phật giáo
kwanyin
Nền tảng triết lý‎ sâu thẳm nhất của “yêu người” trong tư tưởng Phật giáo là câu này: “ Tất cả pháp là không .” Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Vô Tận Tạng .

Tất cả mọi thứ, mọi người, mọi vật (tức là “tất cả pháp”) đều là Một, và cái Một đó không thể diễn tã được bằng từ nào cho đúng, nên gọi là “không”. “Không” đây không có nghĩa là “không có”.

Vì tất cả đều là một, như tất cả ngọn sóng đều là một đại dương, nên người và ta là một. Người là ta và ta là người. Yêu nhau là chuyện đương nhiên. Yêu người cũng là yêu mình thôi.

Ở một mức suy tư thấp hơn, có tính cách thực hành, Kinh Từ Tâm nói ta yêu người vì:

Tâm từ khi được khéo tu,
Làm cho trói buộc bị mau yếu dần.
Không còn dấu vết tham sân,
Niết bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

Tức là yêu người làm tim ta có thể thoát mọi rằng buộc tối tăm–như tham lam, sân hận, si mê–và có được con tim tĩnh lặng để đến được Niết Bàn—Nirvana, Hoàn Toàn Tĩnh Lặng.

Kinh Từ Tâm cũng nói rất rõ là yêu người là yêu tất cả chúng sinh, không phân biệt gần xa tốt xấu, như là Tình yêu vô điều kiện trong Thiên chúa giáo.

Thế Tôn thuyết giảng những lời,
Liên quan tu tập nên người từ tâm,
Là người rất đỗi ân cần,
Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa.
Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,
Người từ tâm trọn quên mình mà thương.

    Kinh Từ Tâm

3. Yêu người trong chủ nghĩa lợi ích (utilitarianism)
compassion2
Những người không tin vào truyền thống tâm linh nào, thì suy nghĩ theo chủ nghĩa lợi ích để xây dựng căn bản cho “yêu người”. Hệ thống đạo đức của chủ nghĩa lợi ích đặt trên căn bản rằng: “Mục đích của đạo đức là tạo nên một thế giới tốt hơn.”

Và “đạo đức là để tạo ra hậu quả tốt, chứ không cần biết đến ‎ý định tốt.” Điều này rất khác với các truyền thống tâm linh, trong đó tâm ý (intention) của ta có một vai trò rất lớn (dù là không có tính cách quyết định) trong việc xét đoán một hành động là thiện hay ác, tốt hay xấu.

Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của người theo chủ nghĩa lợi ích là “Ta nên làm bất kỳ điều gì có lợi nhất cho con người, tức làm cho thế giới sung sướng hơn, hạnh phúc hơn, lý tưởng hơn, bình đẳng hơn, v.v….”

Với kim chỉ nam như thế này, yêu người đương nhiên là có giá trị khi nó làm cho mọi người cùng vui vẻ hòa đồng cho thế giới tốt đẹp hơn. Nhưng khi phải giết người để thế giới tốt đẹp hơn thì cũng nên làm, và gạt bỏ tình yêu cá nhân sang một bên.

Như vậy ta thấy, trong các truyền thống tâm linh, tình yêu con người vô điều kiện–của mỗi cá nhân đến mỗi cá nhân khác trong xã hội–là chỉ đạo cho đời sống cá nhân và xã hội. Tình yêu và cảm xúc tình yêu là kim chỉ nam cho mọi sinh hoạt cá nhân và xã hội.

Nhưng trong chủ nghĩa lợi ích thì yêu người chỉ là một trong những con số trong con toán. Nếu yêu người mà được việc cho thế giới thì yêu, nếu người làm phiền thế giới thì đánh người. Đây cũng là căn bản suy tư cho nhiều cuộc cách mạng xã hội đẩm máu ta đã thấy trong thế kỷ 20 (và vẫn còn xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, dù là dưới hình thức chiến tranh tôn giáo “lêch lạc” ngày nay).

Điều này không có nghĩa là các truyền thống tâm linh không sống chung được với chủ nghĩa lợi ích. Trong đa số vấn đề ở đời, chủ nghĩa lợi ích và các truyền thống tâm linh sẽ có cùng đáp số. Tuy nhiên thỉnh thoảng sẽ có những vấn đề mà kết quả sẽ khác nhau lớn, tùy theo ta chú trọng đến tình yêu hay lợi ích. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này trong đời sống cá nhân, và cũng thấy lịch sử cận đại thế giới đã xảy ra những chuyện gì.

II. Thực Hành Yêu Người
compassion3
Khi yêu ai, tự khắc ta biết phải làm gì. Vì vậy, các trường phái tâm linh chú trọng vào dạy ta có con tim yêu ái, hơn là chú tâm vào dạy qui tắc hành động. Nói chung thì mọi chúng ta đều biết yêu người như thế nào: Nói năng vui vẻ, mỉm cười, đừng trộm của người, đừng ức hiếp người, nghĩ tốt về người và không nên nghĩ xấu về người, thấy cái xấu của người thì biết nhưng không dùng nó để ghét, tha thứ, kẻ thù khi ngã ngựa thì cũng cứu giúp, v.v… Khi yêu tự khắc ta biết phải hành động thế nào.

Tuy nhiên vài trăm năm trước, Đại sư Phật Âm (Bhadantacariya Buddhaghosa), viết quyển cẩm nang quan trọng nhất trong Phật giáo Nguyên Thủy, Visuddhimagga, mà Tỳ kheo Nanamoli đã dịch từ tiếng Pali sang Anh ngữ là The Path of Purification (Con Đường Thanh Tịnh), có chỉ rõ phương cách luyện tập từ tâm, mọi người đều có thể dùng, dù mình nằm trong trường phái nào. Tóm gọn như sau:

Chúng ta thực tập lòng từ (yêu người) từng bước một, bằng cách chia mọi người thành 4 nhóm: Chính ta, người ta rất yêu mến, người ta không thương không ghét, người ta ghét hay thù.

Và thực hành qua 3 (hoặc 4) bước chính như sau:

1. Trước hết ta “khởi lòng từ”: bằng cách hướng lòng từ về chính mình—tôi mong hạnh phúc và không đau khổ; tôi mong không có thù hận, không đau đớn, không lo lắng, và sống hạnh phúc.

2. Sau đó ta “hướng lòng từ”: bằng cách nhớ lại những gì làm ta tăng thêm thương mến (như các món quà hay lời nói dịu dàng), những gì làm ta tăng kính trọng (như đạo đức hay trí tuệ), mà ta đã thấy trong một người nào đó, ví dụ như một vị thầy giáo của ta. Rồi ta hướng lòng từ của ta về người đó: “Tôi mong thầy được hạnh phúc và không đau khổ.” Cứ định tâm như vậy cho đến khi ta cảm thấy đầy ắp lòng từ trong tâm ta.

3. Sau đó ta từ từ “phá bỏ rào cản” giữa các nhóm người. Từ vị thầy giáo, ta hướng lòng từ về một người bạn rất thân, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.

Xong rồi ta lại hướng lòng từ về một người không thương không ghét, cứ như là bạn thân của mình, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.

Xong rồi ta lại hướng lòng từ về một người ta thù, cứ như người ta không thương không ghét, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.
compassion4
4. Tuy nhiên, khi đến “kẻ thù” có thể ta gặp khó khăn, vì đôi khi lòng ta có quá nhiều sân hận làm ta không thể có lòng từ với người này được. Đại sư Phật Âm dạy ta phải biết cách Dập Tắt Sân Hận để lòng từ có thể nẩy nở, theo phương pháp sau:

• Khi bị sân hận cản trở, thì hãy nhớ lời Phật dạy:

“Tỳ kheo, nếu có kẻ cướp dùng cái cưa cưa tay cưa chân ngươi, ai mà mang thù hận trong lòng vì điều đó, người đó không mang giáo pháp của ta.”

“Lấy sân hận trả sân hận thì còn tệ hơn là nổi sân hận trước. Đừng dùng sân hận trả sân hận. Hãy thắng cuộc chiến khó thắng.”

Đức Phật nói có 7 điều làm cho kẻ thù của ta rất thỏa mãn và lợi lộc. Kẻ thù ta muốn ta (1) xấu xí, (2) đau khổ, (3) thiếu may mắn, (4) nghèo khổ, (5) không danh tiếng, (6) không bạn bè, (7) không đến được cõi trời hạnh phúc sau khi chết. Khi mà ta sân hận thì kẻ thù của ta sẽ được cả 7 điều ước này.

• Nếu vẫn còn thấy sân hận, thì hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp trong tác phong của người mình đang giận. Người này có thể có vài tác phong đáng ghét, nhưng cũng có vài tác phong cao đẹp. Hãy nghĩ đến những tác phong cao đẹp của họ.

• Nếu vẫn còn thấy giận, thì hãy nhớ (1) nếu kẻ thù bạn đã dùng quyền năng của hắn để làm cho bạn giận, tại sao bây giờ bạn lại cố hành cái đầu của mình, trong khi hắn không còn quyền năng đó nữa. (2) Người ta làm bậy, cho nên bạn giận, tại sao vậy? Chẳng lẽ bạn cũng muốn bắt chước làm bậy hay sao? (3) Có người làm bậy để chọc giận bạn, chẳng lẽ bạn muốn nổi giận đúng ý họ muốn hay sao? (4) Bạn nổi giận thì không chắc là bạn có làm cho kẻ thù đau đớn được không, nhưng chắc chắn là bạn bị đau đớn vì cơn giận đó. (5) Kẻ thù của bạn bị cơn giận làm mù quáng, chẳng lẽ bạn cũng muốn mù theo hay sao? (6) Nếu vì bạn giận dữ mà kẻ thù bạn làm bạn đau đớn, thì hãy bỏ cơn giận đi. Tại sao bạn phải đau khổ không lý do? (8) Những cơn phẫn nộ thường chỉ kéo dài trong giây phút, những ngông cuồng gây ra những hành động tai ác đã qua hết rồi, vậy thì bạn giận cái gì đây? (9) Khi ta muốn gây khổ đau cho một người vắng mặt, thì ta làm ai đau? Bạn đang có mặt và bạn làm chính bạn đau, tại sao bạn nổi giận với người vắng mặt đó?
compassion5
• Nếu buồn giận vẫn chưa hết, thì hãy nhớ rằng mỗi người là sở hữu chủ của hành động của mình. Việc gì tôi phải nổi giận với anh ta? Anh ta làm bậy thì anh ta sẽ nặng nghiệp tội. Tại sao tôi phải nổi giận, để rồi tôi phải mang nghiệp tội?

• Nhưng sau đó nếu vẫn còn buồn giận thì hãy nghĩ đến những lợi lộc mà lòng từ mang lại. Khi ta thành tâm thực tập lòng từ như là nền tảng của đời sống, ta sẽ được nhiều lợi lộc: (1) Thoải mái khi ngủ, (2) thoải mái khi thức, (3) không có ác mộng, (4) được mọi người thương mến, (5) được loài vật thương mến, (6) thánh thần phò hộ, (7) tập trung tư tưởng dễ dàng, (9) mặt nhìn lúc nào cũng thanh tịnh, (10) khi chết không hoảng loạn.

• Nhưng nếu làm vậy mà vẫn còn hờn giận, thì hãy nghĩ đến những thành tố làm nên một con người. Anh ta cũng chỉ là Không, cũng sẽ vào hư vô. Tôi giận cái gì đây? Tôi giận ai đây?

• Nhưng nếu đến lúc này mà vẫn không hết giận, thì hãy dùng quà tặng, hoặc là ta tặng quà cho người ta đang giận, hoặc là nhận quà tặng của người ấy.

• Khi cơn giận đã bắt đầu nguôi, ta phải hướng lòng từ về người này, cứ như là chính ta, là người thân của ta, người ta không thương không ghét, người ta có thù hận. Và ta phải lập đi lập lại thực tập lòng từ, phá bỏ rào cản, cho đến lúc trong tâm ta bốn nhóm người đều bình đẳng như nhau: ta, người thân của ta, người không thương không ghét, người có thù hận.

Và, các bạn, dĩ nhiên là môn thực hành nào cũng đòi hỏi nhiều năm tháng để thuần thục. Điều quan trọng là, cũng như học đàn, học vẽ hay học võ, luyện tập thường xuyên hàng ngày là cách duy nhất để giỏi. Và nếu thỉnh thoảng có đánh đàn sai nốt thì cũng nhớ rằng bao nhiêu nghìn học trò khác, bao nhiêu nghìn vị thầy thượng đẳng của thế giới, cũng lâu lâu bị sai nốt như bạn vậy. :-)

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Yêu mình, Yêu người, Yêu người, tin người, Người và Tôi

Tháng Mười Một 6, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism, Inspiration | , | No Comments Yet

Si

Chào các bạn,

Hôm nay ta nói đến chữ “Si” trong Phật học, chữ cuối cùng trong tam độc tham sân si, nguồn gốc của mọi khổ đau.
ignorance
Chắc là ai trong chúng ta cũng đã biết cây si của các chàng si tình trồng trước cửa nhà các cô. Sở dĩ gọi là si, vì khi yêu thì thành mù quáng. Si là mù quáng, ngu dốt, đần độn… Vì vậy nên mới nói “si mê”. Đã mê thì phải si, chưa si là chưa mê. :-)

Trong Phật học, si là (1) không biết về nguyên lý căn bản của vũ trụ và đời sống: Tất cả mọi sự đều phù du, không chắc chắn, thay đổi không ngừng—tức là, mọi sự đều “vô thường” (non-permanent), và (2) mê say ôm chặt (tức là “chấp” vào, attached to) những cái vô thường đó.

Ở đây, chúng ta không cần phải đi sâu rốt ráo vào vô thườngchấp của những người tu đường Bồ tát, mà có thể dùng một khái niệm tương tự trong tư tưởng và luận l‎ý Tây phương khá quen thuộc với chúng ta ngày nay. Đó là khái niệm “tương đối” (relative, relativity).

• Tương đối hàm ý “so sánh”. Ví dụ: Khi ta nói “Cô ấy đẹp”, ta đương nhiên nói “So sánh với những người trung bình khác, thì cố ấy đẹp, nhưng so sánh với các hoa hậu thì chưa biết.”

• Tương đối hàm ý “lệ thuộc vào chủ từ”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là “Đối với mắt tôi thì cô ấy đẹp, nhưng đối với mắt của người khác thì chưa biết.”

• Tương ‎đối hàm ý “có giới hạn”. Ví dụ: Khi ta nói “Anh ta rất thông minh”, ta vẫn hàm ‎ ý rằng cô những điều anh ấy không biết.
Relativism
• Tương đối hàm ý “có thể thay đổi”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là hiện thời cô ấy đẹp, nhưng khi cô ấy 50 tuổi thì chưa biết. Hay “Anh ấy rất giàu” có nghĩa là hiện thời anh ấy giàu, nhưng mai mốt thì chưa biết.

Trong cách nói hàng ngày, ta luôn luôn nói với nghĩa tương đối, dù là ta chẳng bao giờ nhắc đến từ “tương đối”, thậm chí chẳng nghĩ đến nó. Khi ta nói “Cô ấy đẹp” hay “Anh ấy thông minh” là đương nhiên ta hàm ‎các ý so sánh, tùy thuộc chủ từ, giới hạn, và thay đổi.

Nhưng…
khi ta nói về chính mình:

“Tôi rất đẹp, tôi rất tử tế, tôi rất hiền hậu, tôi rất đạo đức…”

thì lại là chuyện khác.

Khi nói về “tôi hiền hậu” chẳng hạn, ta thường hành động như là ta không nghĩ đến so sánh, chủ từ, giới hạn, và thay đổi. Ta hành động cứ như là “Tôi hiền hậu nhất thế giới, không ai bằng, và luôn luôn hiền hậu tại mọi nơi mọi lúc, vĩnh cửu, và tất cả mọi người trên thế giới đều đồng ‎ý như thế (dĩ nhiên ngoại trừ mấy người u mê).”

Khi nói, Tôi học giỏi, tôi đẹp, tôi khiêm tốn, tôi yêu người, tôi đạo đức… cũng thế. Ta suy tư và hành động cứ như là tôi giỏi nhất thiên hạ và sẽ giỏi vĩnh viễn và ai cũng biết, đẹp nhất thiên hạ và sẽ đẹp vĩnh viễn và ai cũng biết…

Đó là nói về các phương diện cụ thể của tôi…

Khi nói về tư tưởng trừu tượng của tôi, như là ‎ý kiến của tôi, phán đoán của tôi, chủ nghĩa của tôi, lòng tin của tôi, tôn giáo của tôi… thì sự tập trung vào tôi còn mạnh hơn ngàn lần, và hầu như ta quên hẳn “tương đối”:
closedminded
Mấy đám này vừa bất tài vừa thiếu giáo dục.
Chủ nghĩa dân chủ đa đảng là con đường duy nhất đưa đến thịnh vượng.
Chủ nghĩa xã hội là lối duy nhất đến hạnh phúc.
Tin tên đó là chỉ có bán nhà.
Chỉ có đạo tôi mới đúng, mấy đám khác là mê tín dị đoan.
Làm sao mà có thể yêu kẻ nửa người nửa ngợm vậy nhỉ?

Tất cả những điều này, ta thường tuyên bố và hành động một chiều như là chúng nhất định phải đúng 100% và “người khôn ngoan” thì phải biết các điều đó và sống với các điều đó.

Đương nhiên chúng ta biết, thái độ đó rất là trẻ con, vì…

Người già dặn hơn một tí ai cũng biết là điều gì hay và tốt cho mình chưa hẳn là hay và tốt đối với người khác, hay và tốt lúc này chưa hẳn là hay và tốt lúc khác, hay và tốt nơi này chưa hẳn là hay và tốt nơi khác.

Tương đối có nghĩa là cái nhìn của ta rất tương đối, và người khác có thể có cái nhìn khác ta, nhưng vẫn có thể đúng như ta. Nếu ta nói “voi hiền” thì cũng đúng, người khác nói “voi dữ” thì cũng đúng, tuỳ theo lúc voi đứng trong sở thú ăn mía hay đang trong rẫy phá mía.

Nếu biết rằng mọi suy tư, mọi chân lý ở đời đều có tính cách tương đối, và các suy tư hoặc chân lý khác nhau có thể đều đúng, thì ta không còn hồ đồ kiêu căng trong suy tư và phán đoán của mình, cũng như không ép buộc người khác phải nghĩ và làm như mình. Tức là, ta gạt bỏ được những khổ đau cho mình và cho xã hội quanh mình, sinh ra từ kiêu căng và áp bức của chính mình.

Thêm vào đó, ta lại có thể học cách suy tư để thấy cái đúng của người khác, tức là làm cho đầu óc và tư duy của mình giàu có hơn, thông thái hơn.

Bạn không cần phải thích ăn mắm nêm, nhưng đừng đòi hỏi mọi người hãy tẩy chay mắm nêm theo bạn. Và chẳng lý do gì mà bạn không sống thoải mái được với người thích mắm nêm, cũng như học thêm tại sao họ thích mắm nêm và mắm nêm có gì ngon với họ.

Hiểu được lý tương đối ở đời, và sống vui vẻ hòa hợp với mọi người trong‎ lý tương đối đó, chính là sống với thực tế cuộc đời, là mở rộng đầu óc để nhìn mọi vấn đề dưới mọi góc cạnh khác nhau, là không còn làm “người mù sờ voi”, là không còn “Si” nữa.

Trên phương diện xã hội học, tư duy tương đối chính là nền tảng của cách sống mà ta gọi là hòa đồng, cởi mở, dân chủ. Trong một xã hôi có nhiều người suy nghĩ và sinh hoạt khác nhau, thì cách sống hòa bình, công bình và thoải mái nhất là, mọi người cùng nghiên cứu phương cách để có thể sống chung hòa bình vui vẻ, thay vì một nhóm áp đặt một cách suy tư và sinh hoạt trên tất cả mọi nhóm khác.

Kết quả cuối cùng của việc hiểu lẽ tương đối là:

• Trên phương diện cá nhân: Ta khiêm tốn hơn vì biết mọi cái ta có cũng chỉ là tương đối (tức là, vô thường); bình thản hơn vì biết bản chất hay thay đổi (vô thường) của đời sống và, do đó, sẵn sàng đối diện tương lai; thông thái hơn vì biết học cách nhìn của người khác.

• Trên phương diện xã hội: Xã hội bình đẳng hơn, nhân ái hơn, hòa bình hơn và thịnh vượng hơn, vì mọi người tôn trọng nhau, học hỏi nhau và gắn bó nhau.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tham, Sân, Si

Tháng Mười Một 6, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism, Inspiration | , | No Comments Yet

Sân

Chào các bạn,

Hôm nay ta nói đến chữ “sân” trong ba độc “tham sân si”, ba nguồn gốc của mọi khổ đau theo Kinh Tham Sân Si của Phật gia.

Sân hay sân hận là nổi nóng, giận dữ, hờn giận, bực bội, la hét, chưởi bới, xù lông xù cánh… Sân là nóng ra ngoài. Hận là nóng ngầm bên trong. Chẳng ai trong chúng ta lạ lùng gì với sân hận.
anger
Nhưng, chẳng mấy khi ta nghĩ đến sân hận là nguồn gốc của đau khổ cho mình và cho cả thế giới của mình cả, phải không các bạn? Có ai đó nói một câu đụng chạm đến ta một cách bất công, ta “giải thích” ngay lập tức, với lời lẽ “dạy trẻ” hay “hăm dọa”, hay cả hai. Hoặc là mỉm cười dịu dàng với quả tim thâm tím, “Để đó, bà sẽ cho mày biết tay. Đời còn dài.”

* Ít khi chúng ta nổi nóng một cách bất công. Thông thường thì ta nổi nóng vì một anh chàng “ngu dốt” nào đó làm một điều “ngu dốt” nào đó, đụng chạm đến bản thân hay quyền lợi của ta, hay đụng chạm lợi ích xã hội, hay bất công với người khác… Nói chung là chúng ta thường có lý do “đúng” để nổi nóng. Rất ít khi ta nổi nóng vì hiểu lầm. Và tuyệt nhiên không ai nổi nóng mà không có l‎ý do.

Và đó chính là vấn đề khó khăn nhất ta đối diện: Vì ta luôn luôn có lý do chính đáng để nổi nóng, cho nên ta thường không thấy nổi nóng là một độc cần phải giải trừ.

* Hơn nữa, nổi nóng là một quyền lợi xã hội đi đôi với chức vụ. Ông là quan chức, ông có quyền nổi nóng với mày, mày là phó thường dân khố rách áo ôm mà dám hỗn với ông à?

Thầy cô có quyền nổi nóng, học trò thì không. Bố mẹ có quyền nổi nóng, con cái thì không. Chức cao hơn thì được nổi nóng, chức nhỏ hơn thì không.

Quyền nổi nóng gia tăng theo địa vị xã hội, cho nên vua là tồi nhất trong chứng bệnh này. Nói chạm đến lông chân của vua là chết như không.

Vì vậy rất nhiều người càng lớn tuổi và càng quyền lực thì càng tồi tệ với người nhỏ hơn và thấp hơn. Về khoản sân hận này, xem ra người ta có thể đi xuống trong khi người ta đi lên về địa vị và tuổi tác.

Khi nói đến sân hận, chúng ta có thể nghĩ ngay đến một đám teen nhảy choi choi đánh nhau trên đường phố. Nhưng thực ra, sân hận là vấn đề nhỏ đối với teen, mà là vấn đề lớn hơn rất nhiều đối với người lớn, và là vấn đề cực lớn với những người quyền cao danh trọng và lớn tuổi.

* Điều này rất dễ hiểu, vì càng quyền cao danh trọng thì “cái tôi” càng có nhiều cơ hội để trương phình vĩ đại—với bao nhiêu khen thưởng, nịnh hót, danh tiếng, quyền lực, tiền bạc dồn vào mình. “Cái tôi” càng trương phình, ta càng dễ tự ái vặt—ai phê phán một tí xíu thôi, là có thể đốt ngòi nổ chậm cho bom nguyên tử. Sống gần vua như sống gần cọp là thế.

Nhưng tại sao ta phải diệt sân hận?
anger1
Thưa, bởi vì kinh nghiệm cho thấy khi ta nóng, ta làm nhiều chuyện điên rồ và ngu dốt ngoài sức tưởng tượng. Đọc báo thì thấy nhan nhản hàng ngày: Chồng vợ cải nhau hai ba câu, ông chồng nổi nóng đổ ngay thùng xăng vào vợ và bật hộp quẹt. Học trò làm ồn, cô giáo bực mình tát cho một tát lũng luôn màng nhỉ. Một bạn nói bạn kia ngu, bạn “ngu” bèn rút dao đâm ngay tại cổng trường…

Và cái hận ngấm ngầm cũng chẳng kém hại tí nào, nếu không nói là hại hơn nóng bùng nổ. Truyện kiếm hiệp, ảnh hưởng lớn trong nền văn hóa nước ta, dạy “Quân tử báo thù 10 năm cũng chưa muộn.” Và nhiều người bỏ cả đời, chỉ sống để tầm thù. Hạng “quân tử” của đạo tầm thù và không biết đến đạo lý buông xả này, nhất định phải là sáng tạo của các tiểu nhân thời hậu thế mạt pháp, vì khó tưởng tượng được Khổng Tử–thầy dạy quân tử–lại có thể nhỏ mọn đến thế, chưa cần nói đến thầy dạy buông xả Thích Ca.

Mỗi phút sân hận là mỗi phút stress. Người sân hận thì không thể vui vẻ hạnh phúc được, và stress tạo ra đủ loại tâm bệnh và bệnh cơ thể, như động tim, đột quỵ, tăng khả năng ung thư, làm yếu hệ thống miễn nhiễm để bao nhiêu loại bệnh tha hồ tấn công… Nếu ai muốn đi sớm, thì cứ tự do sân hận thoải mái.

Ngoài cái hại cho chính mình, người nhiều sân hận chẳng vui vẻ được với ai, hay “chia” stress cho những người gần gũi, và gây đau khổ cho những người chung quanh, mỗi khi ai đó làm trái ý họ, dù đó là bạn bè hay thân quyến.

Lãnh đạo hay sân hận thì người dưới trướng sống như sống chung với cọp. Lãnh đạo quốc gia mà hay sân hận thì thường gây chiến tranh với lân bang.

* Điều quan trọng nhất ta thấy là, sân hận chẳng được một lợi ích gì cả. Không có điều gì mà ta không thể làm được mà không cần nổi nóng. Ta có thể làm được mọi điều rất tốt mà không hề phải nổi nóng một tí nào.

Thế nghĩa là sân hận chỉ có thể có hại, hoặc cùng lắm là vô hại trong một vài trường hợp lẻ loi, nhưng không thể có lợi gì cả. Cho nên chẳng có l‎ý do gì chúng ta phải có sân hận trong lòng.

Thế nhưng, không phải là đôi khi nổi nóng, làm dữ, cũng là cách tốt để chống sai trái sao?

Đúng như thế, khi gặp một nhóm cướp đường, có thể cách hay nhất là đập cho các chú một trận rồi bắt nhốt vào trại cải huấn, may ra mới lấy lại được an ninh cho đường phố và giáo huấn các chú được.
cooldown
Hoặc vợ bị chồng áp bức quá, phải nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra chàng ta mới bắt đầu kính nể.

Hoặc dân bị quan chà đạp quá, nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra mới có người nghe lời kêu nài.

Bản tính con người là như thế, đôi khi phản ứng mạnh mẽ thì mới đưa lại kết quả và công lý, còn lúc nào cũng dịu dàng chưa chắc đã được việc.

Nhưng phản ứng mạnh mẽ không có nghĩa là nổi giận hay sân hận, các bạn. Đây là hai điều hoàn toàn khác nhau.

Qui tắc chiến đấu thành công đòi hỏi một con tim thông suốt tĩnh lặng:

Nếu bạn phải chiến đấu như người nổi điên vì tức giận, thì hãy chiến đấu dữ dội như thế, với sự suy tính cẩn thận của một con tim trong trẻo tĩnh lặng như mặt nước hồ thu.

Nếu dữ dội vì suy tính bình thản mình phải làm thế, thì đó là chiến lược thắng,

Nếu dữ dội vì nổi nóng, đó là đường thua và đó không là chiến lược.

Tóm lại, sân hận, như HIV/AIDS chỉ có hại mà chẳng được lợi gì. Chẳng lý do gì mà ta không luyện tập để từ bỏ nó.

Nhưng làm sao để từ bỏ sân hận?

Người ta hay nói nhiều cách để chấm dứt sân hận, dẹp bỏ tính nóng, như là: Uống một ly nước khi nổi nóng; hay có nhiều lòng từ và yêu thương mọi người… Mọi cách đó đều tốt cả. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình thì có 2 điều dễ làm nhất để trừ sân hận từ từ. (Trừ từ từ vì bản tính con người không thể xoay ngược trong chỉ một ngày, một tháng, hay ngay cả một năm. Bất kỳ luyện tập nào cũng đòi hỏi kiên trì và nhiều công phu tu tập nhiều năm, mỗi ngày khá một tí). Hai điều đó là:

1. Không bao giờ làm quyết định gì khi bạn đang nổi nóng. Quyết tâm đợi hết nóng rồi hãy tính.

Nếu muốn giải thích cho hắn ta ngay vì mình đang nổi nóng, để đó tính sau. Nguội rồi hãy tính. Nếu muốn đấm cho hắn một đấm vì hắn phi lý quá, để đó tính sau. Hết nóng rồi hãy tính. Không làm quyết định gì khi đang nóng, kể cả khi đang “nóng ngầm.”

Quyết định khi đang nóng đơn giản là dốt, là bất trí.

2. Luôn luôn nhắc mình rằng sân hận hoàn toàn chỉ có hại mà không có lợi, và ta sân hận chỉ vì ta còn là nô lệ của thói quen.

Vì vậy, không l‎ý do gì ta phải tiếp tục nô lệ trong con đường bất trí đó, mà không tìm cách làm chủ tâm mình để có được tự do.

Nếu mình biết sân hận là cái phải dứt bỏ như thế, thì rất khó để cho nó có thể sống lâu trong mình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tham, Sân, Si

Tháng Mười Một 5, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism, Inspiration | , | No Comments Yet

Tham

Chào các bạn,

Tham sân si. Đây là cái mà Phật gia gọi là tam độc, ba loại độc làm cho chúng ta đau khổ. Nguồn gốc mọi khổ đau của chúng ta nằm trong 3 chữ này. Hôm nay ta sẽ nói về chữ “tham” trước.
greed
Hầu như bất kỳ điều gì trên đời ta cũng có thể tham được: Tham tiền, tham tài sản, tham tài năng, tham sắc, tham quyền lực, tham danh tiếng, tham an ninh, tham người yêu/tình yêu, tham thành công … Hầu như bất cứ danh từ nào trong quyển tự điển mấy chục ngàn chữ, cũng đều có thể là đối tượng của máu tham của ta cả: Cái bàn, chim bồ câu, lăng tẩm, sách, cá mập, đô la, phụ nữ … Cho nên chỉ một chữ này thôi, ta có thể đi lạc vòng vòng thế giới, luân lưu sáu nẻo luân hồi qua vô lượng kiếp, không bao giờ dứt (Nói theo kiểu nhà Phật :-) ). Cho nên có lẽ vì vậy mà “tham” đứng đầu trong ba độc.

* Tham cái xấu như tham ma túy, tham nổi tiếng ăn cướp, tham áp bức… là chuyện xấu, đương nhiên rồi.

* Nhưng tham cái hay cái đẹp cũng là vấn đề, dù ta thường không thấy vấn dề này — như là, yêu em quá, nhưng thấy em có vẻ như có cảm tình với tên búzù kia, bèn nổi máu du côn đập cho anh chàng một trận. Hay, tham học quá, nhưng anh chàng hàng xóm làm ồn học không được, mới cho anh chàng một búa.

* Tệ nhất và nguy hiểm nhất là tham những lý tưởng cao siêu, cao quý, như là mang ánh sáng của Chúa hay của Allah đến cho thế giới mù lòa, bằng cách chi tiền hay mang quân tấn công đất người để “giúp” họ trở lại đạo. Hay, mang lại công bình hạnh phúc cho thế giới bằng cách mạng đẩm máu giết chết hàng triệu người “cản trở” con đường cách mạng.
greed1
Cái tham “l‎ý tưởng” này ai cũng thấy là to lớn và kinh khiếp số một cho thế giới con người. Phiền một nỗi là cái tham này lại làm cho người ta mù quáng và điên rồ hơn tất cả mọi cái tham khác—Một tên đồ tể giết hàng triệu người như nghóe, cũng có thể rất thành thật tin rằng hắn ta phục vụ Allah hay phục vụ công bình hạnh phúc cho con người. Và hầu như chẳng có cách nào để khuyên can hay giải bày gì cho mấy đại đồ tể này thấy rõ cái ác của họ.

Vấn đề của chúng ta là “ước muốn” khác với “tham” thế nào?

Trong hàng Bồ tát của Phật gia, ước muốn và tham là một. Còn ước muốn là còn tham.

Nhưng chúng ta chỉ mới đến hàng bị bồ tát, cho nên ta khoan lý giải theo hàng Bồ tát và chỉ lý giải theo hàng bị bồ tát mà thôi.

Ước muốn là những giấc mơ thúc đẩy ta tích cực tiến bước về một tương lai tươi sáng.

* Ước muốn cho chính ta thì ích kỷ, không tốt; và ước muốn vị tha, cho người khác–cho xã hội cho thế giới–là ước muốn tốt, phải không các bạn? Hmm… các bạn đã quên những đại đồ tể vẫn tin mình là thánh mà chúng ta mới nói trên kia sao? Chẳng có gì để bảo đảm là khi ta ước muốn cho xã hội thì ta sẽ không là đồ tể. Và chẳng có gì để bảo đảm là khi ta chỉ ước muốn ta khỏe mạnh giàu có thì ta sẽ không là người tốt cho xã hội. Cho nên ta không thể lấy “ước muốn cho ta” hay “ước muốn cho người” làm kim chỉ nam.

* Trong xã hội mọi người sống chung, không ai thực sự quan tâm đến chuyện ta ước muốn cho riêng của ta hay ta ước muốn cho xã hội. Điều duy nhất mọi người quan tâm là sự thực hiện ‎ý muốn của ta có thiệt hại đến người khác không.

Nếu ta muốn có nhiều tiền, nhưng ta kiếm tiền thành thật, không dối trá, không quảng cáo láo, không ăn chận, không tham nhũng, không áp bức người nghèo… thì việc làm tiền đó có gì sai? Thực ra, nếu tiền rơi vào tay những người làm ăn thành thật, thì đây là việc tốt cho họ và cho cả thế giới, vì người thành thật thường dùng tiền của mình để giúp xã hội và những người chung quanh.

Nếu bạn muốn rao giảng lời chúa, nhưng xỉ vả người “ngoại đạo” là mê tín dị đoan, lầm lạc hay vô đạo đức, và không kính trọng truyền thống tâm linh của người khác, kể cả người không theo đạo nào, thì sự rao giảng lời Chúa của bạn có lợi gì cho ai?
gentleness
Nếu bạn đấu tranh cho hòa bình và công lý, mà không giết chóc trù dập ai, cũng không cản trở tiến hóa của xã hội, thì việc làm lý tưởng của bạn chỉ có lợi cho mọi người mà không hại.

Không làm hại người khác khi thực hiện ý muốn của mình, đây là thước đo cách sống của chúng ta.

Dĩ nhiên là nói vẫn luôn luôn dễ hơn làm. Bởi vì nếu bạn tố cáo tham nhũng, đương nhiên là bạn sẽ “làm hại” người bị bạn tố cáo. Thế thì làm sao đây?

Thưa, đây là câu hỏi không có câu trả lời chung, mà tùy theo mỗi trường hợp, bạn phải tự hỏi lòng mình và phải tự quyết định. Có thể bạn tố cáo anh chàng “tham nhũng” này vì hắn lấy mất chức của bạn mấy tháng trước? Nếu thế thì bạn thực sự chống tham nhũng hay bạn đang trả thù? Mà dù là bạn đang muốn trả thù, bạn vẫn nên tố cáo hay không, vì đó là việc tốt cho xã hội? Hay bạn nên đợi khi bạn thực sự không còn ganh tị với người này nữa, rồi hãy tính đến chuyện tố cáo sau, để chắc chắn là mình khách quan trong việc làm?

Rốt cuộc cũng chính cái tâm của mình phải quyết định cho mình. Nếu ta có tâm tốt, không có ý đồ hại ai vì cá nhân mình, lại luôn luôn tránh thiệt hại cho người càng nhiều càng tốt … thì ước muốn và hành động của ta thường là tốt.

Nhưng khi các chính trị gia hại cả triệu người để, họ tin trong lòng, là giúp cả triệu hay cả tỉ người khác, thì chúng ta cần xét lại… vì với các con số lớn như vậy, các tính toán của ta rất khó để chính xác. Thông thường thì, chết chóc và đổ vỡ thấy ngay trước mắt, nhưng hạnh phúc cho xã hội thì chỉ là một cái bánh vẽ của tương lai. Kinh nghiệm của lịch sử thế giới thường cho thấy thế. Vì vậy, khi nói đến đau thương chết chóc cho nhiều người, tốt hơn là đừng tưởng ta là thánh đang “thay trời hành đạo.”

Nói chung là, Không những tâm ta không muốn hại ai, mà hành động cũng không hại ai, thì đó mới là ước muốn tốt.

Suy tư phải tốt, và hành động cũng phải tốt.

Dùng mục đích để biện mình cho hành động là con đường nhanh nhất để biến ta thành đại ác. Như chặt chân con để nó tốt, không đi chơi bậy. “Trong lòng tôi chỉ muốn con tôi tốt mà, tôi đâu muốn hại nó.” Đó là lối suy tư của ác quỷ, các bạn ạ.

Chỉ “ý tốt” không đủ, phải “làm tốt” nữa mới đủ.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tham, Sân, Si

Tháng Mười Một 5, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism, Inspiration | , | No Comments Yet

Giáo Pháp Thiên Nhiên

Chào các bạn,

Giáo pháp thiên nhiên là con gió mơn man dịu dàng trên má… Pháp ở quanh ta, từ đầu cây ngọn cỏ, cánh chim, vạt nắng… Nếu ta hòa nhập cùng thiên nhiên làm một tức là ta đã hòa nhập với pháp làm một.

Trong tập PPS sau, thiền sư Ajahn Chah đã viết một bài thơ về giáo pháp thiên nhiên, và mình cùng anh Hoành đã dịch sang tiếng Việt để chia sẻ với các bạn.

Xin các bạn hãy click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn thân tâm thường lạc.

Bình an & Sức Khỏe,

Túy-Phượng
.

nature

Tháng Mười 26, 2009 Đăng bởi Túy-Phượng | Buddhism, Inspiration, Video PPS | , , | No Comments Yet

Sống cuộc đời đáng sống

Chào các bạn,

Mình thấy trong đời sống hàng ngày của mọi người thường khi lo nghĩ bận bịu rất nhiều điều. Video “Sống Cuộc Đời Đáng Sống” này đã giúp nhắc nhở cho mình lại bản chất thật của cuộc đời, để thấy và sửa đổi đời sống của mình đối với mọi người xung quanh một cách rất thú vị, an vui.

Mình và anh Hoành mới dịch nó sang tiếng Việt. Mình xin được chia sẻ với các bạn ở đây, và mong rằng đời sống của các bạn sẽ được thêm phần thư giãn, hạnh phúc.

Các bạn click vào ảnh bên dưới để xem slideshow.

Chúc các bạn một ngày vui tươi hạnh phúc. :-)

Túy-Phượng.

flying

Tháng Mười 26, 2009 Đăng bởi Túy-Phượng | Buddhism, Inspiration, Video PPS | | No Comments Yet

Nguyên hỏa – Lửa gốc

Chào các bạn,

Nguyên Hỏa là tên một bài thiền thi của đại sư Khuông Việt (Ngô Chân Lưu, 930-1011), sống vào thời Đinh Tiên Hoàng – Lý Công Uẩn. Bài này mới được đăng gần đây trong slideshow Thiền Thi. Hôm nay mình sẽ giải thích về bài này một tí, nhấn mạnh đến khía cạnh tư duy tích cực của bài thơ.
flame
Lời dịch tiếng Việt của bài thơ như sau:

Lửa gốc

Trong cây đã có lửa
Có lửa nên sinh lửa
Nếu cây không có lửa
Cọ xát sao thành lửa

    TDH dịch

Lời nguyên thủy Hán Việt là:

Nguyên hỏa

Mộc trung nguyên hữu hỏa
Nguyên hỏa phục hoàn sanh
Nhược vị mộc vô hỏa
Toàn toại hà do manh?

Đây là lấy ý từ việc tạo lửa bằng cách dùng hai thanh củi khô cọ vào với nhau. Các bạn trong quân đội, hướng đạo (boy or girl scouts), hay các đoàn thể thanh niên, học môn mưu sinh thoát hiểm, đều biết cách tạo lửa này.

Đọc tiếp »

Tháng Mười 25, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , , | No Comments Yet

Tuệ ngữ của Đạt Lai Lạt Ma

Chào các bạn,

Mình mới làm xong một slideshow gồm ảnh Đạt Lai Lạt Ma hoằng pháp tại Đức, và một số lời giảng (song ngữ Anh Việt) về cách sống ở đời. Post đây để chia sẻ với các bạn khuôn mặt có lẽ là vui vẻ, an lạc, và từ tốn nhất thế giới.

Chúc các bạn một ngày thông tuệ!

Bình an và sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin các bạn Click vào ảnh để xem slideshow và download
.

dalailama

Tháng Chín 24, 2009 Đăng bởi Túy-Phượng | Buddhism, Inspiration, Video PPS | , | No Comments Yet

Đo lường chính mình

Chào các bạn,

Những vấn đề, những lắng lo, những lý tưởng, những mong ước của chúng ta lớn đến mức nào? Những nền văn minh, những tôn giáo, những tranh đấu của chúng ta lớn đến mức nào? Những lịch sử, những ký ức, những dự phóng tương lai của chúng ta lớn đến mức nào?

Mời các bạn dành vài phút, nghe một bản nhạc êm, xem vài hình ảnh đẹp mắt, và đọc vài câu hỏi nhẹ nhàng, để có dịp nhìn lại ta và những vấn đề lớn của ta, trong một cái nhìn toàn diện.

Chúc các bạn một ngày thảnh thơi :-)

Bình an & sức khỏe,

Túy-Phượng

Click và ảnh để xem slideshow

galaxy

Tháng Chín 24, 2009 Đăng bởi Túy-Phượng | Inspiration, Video PPS | | No Comments Yet

Thiền Thi (Lý – Trần 900CE-1400CE)

Trần Lê Túy-Phượng:

Chào các bạn,

Mình mới làm xong slideshow này có 32 ảnh bonsai, 30 bài thơ thiền Hán Việt của hai đời Lý Trần (năm 900 đến 1400 sau công nguyên), và 30 bài thơ dịch tiếng Việt của các anh Nguyễn Duy, Nguyễn Bá Chung và Trần Đình Hoành. Bản nhạc nền Rejuvenation cũng rất thiền. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Chúc các bạn một ngày tĩnh lặng !

Túy-Phượng
.

Click vào ảnh dưới đây để xem và download slideshow

bonsai-tree

Tháng Chín 13, 2009 Đăng bởi Túy-Phượng | Buddhism, Inspiration, Video PPS | , , , | No Comments Yet

The Heart Sutra

A Brief Exposition on the Heart Sutra


The Heart Sutra is the apex of the Mahayana Buddhism thought. Buddhism developed from Theravada to Mahayana. Thailand, Myanmar, Sri Lanka, Cambodia and Laos are essentially Theravada. Vietnam, China, Japan, Korea, Hongkong, Singapore, Taiwan, Tibet and Mongolia are essentially Mahayana.

In this long development of Buddhism, the key concept of emptiness or void (Sũnya in Sanskrist) developed along. Life is non-permanent because everything comes and goes, depending on the law of causation. Life is therefore illusory, not real. In other words, life is emptiness.

This concept of emptiness may easily lead to the negative thought of nihilism. Mahayana Buddhism takes us back out of this extremist concept of emptiness to the middle way. This middle way still commits to the idea that “life is emptiness”; however emptiness here is not different from existence–emptiness is existence, existence is emptiness. This middle way definitely takes away any inkling of nihilist negativism. It is realistic and positive about life.

The Heart Sutra presents this middle way while going swiftly through all teachings of the Buddhist tradition, from Theravada to Mahayana. This sutra is so central to Mahayana Buddhism that it is recited daily by monks and nuns. Studying the Heart Sutra is really the studying of the whole Buddhism.

Continue reading and download at:  heart-sutra_tdh


Tháng Một 29, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , | No Comments Yet

Kinh Kim Cang



Kinh Kim Cang


Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng

Nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai


Tất cả Phật pháp có thể tóm vào một chữ “xả”[1]—xả bỏ mọi chấp trước.  Chấp trước[2] là bám víu, nắm giữ, vướng mắc.  Xả bỏ chấp trước là xả bỏ bám víu, nắm giữ, vướng mắc.  Đó là vô chấp.  Và đó cũng là Niết bàn,[3] là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-Giác.[4]


Phật pháp luôn luôn mang ba dấu ấn[5]– vô thường, vô ngã, Niết bàn.[6] Giáo lý nào thiếu một trong ba dấu ấn này thì không phải là Phật pháp.  Vô thường tức là không thường hằng, hay nói cách khác là không chấp vào ý niệm rằng mọi sự trong vũ trụ cứ như thế, không thay đổi.  Vô ngã tức là không có một “tôi” bất biến, vĩnh cửu, hay nói cách khác là không chấp vào ý niệm về một “tôi” bất biến vĩnh cửu.  “Tôi” chỉ là kết hợp tạm thời và luôn thay đổi của những thứ khác.  Một lúc nào đó kết hợp này sẽ rã ra và tôi không còn nữa.[7] Niết bàn là lửa đã tắt, là không còn chấp vào bất kỳ điều gì; Niết bàn là thanh tịnh trống rỗng.[8]


Kinh Kim Cang nhằm đoạn trừ tất cả chấp trước.  Tên đầy đủ của Kinh Kim Cang là Kim Cang Năng Đoạn Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
[9] Kim cang hay kim cương là kim loại cứng nhất, có thể cắt được tất cả các kim loại khác.  Năng đoạn tức là có khả năng đoạn trừ, đoạn trừ mọi chấp trước. Bát-nhã ba-la-mật-đa tức là trí tuệ đưa đến bờ bên kia, trí tuệ giải thoát.


Bát Nhã Tâm Kinh dạy rằng:  “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.”
[10] Sắc là hình tướng, là biểu hiện bên ngoài, gọi là “tướng”, như là sóng; Không là bản thể, gọi là “tánh”, như là nước.  Sóng là biểu hiện (tướng) của nước, nước là bản thể (tánh) của sóng.  Tướng thì ở bên ngoài, chuyển động, phù du, tương đối.  Tánh thì tiềm ẩn, tĩnh lặng, thường hằng, tuyệt đối.[11] Nhưng tướng và tánh, như sóng và nước, không thể rời nhau.  Tướng là một mặt hiện của tánh, tánh là cội rễ của tướng.

Ta nhìn vũ trụ qua bề ngoài, qua tướng, cho nên ta thường “chấp tướng”, tức là vướng mắc vào cái nhìn bên ngoài để mà sống.  Nhưng nếu ta bỏ hẳn tướng đi, tức là “chấp phi tướng”[12] thì cũng không được, vì ta sẽ vướng mắc vào thái độ hoàn toàn thiếu thực tế là xem như chẳng có cuộc đời trước mắt.

Bát nhã là thấy cả Sắc lẫn Không, thấy cả tướng lẫn tánh, thấy tướng và tánh gắn bó làm một, nhưng vẫn phân biệt được đâu là tướng và đâu là tánh, và không chấp vào tướng nào.[13]

Vì vậy Kinh Kim Cang (1) chỉ ra cho chúng ta thấy tướng của mọi pháp để ta thấy tướng và sống với tướng, vì đời sống là sống với tướng (2) nhưng không chấp vào tướng, vì tướng chỉ là phù du, không thường hằng.  Nghĩa là ta vẫn sống với cuộc đời này giữa muôn hình tướng của nó, ta không chối bỏ cuộc đời; nhưng ta không cố chấp vào điều gì cả, vì cố chấp vào phù du thì đúng là rất si mê.

Đây là một cái nhìn “hai vế” rất tích cực, quân bình và thực tế về đời sống và Phật pháp.  Nếu không nắm vững hai vế này thì ta rất dễ rơi vào các cực đoan chấp có hoặc chấp không, chấp tướng hoặc chấp phi tướng, và ta sẽ không thể hiểu được Kim Cang Bát-nhã.

Kinh Kim Cang có tất cả 32 đoạn. Trừ đoạn đầu có tính cách giới thiệu, các đoạn sau là một chuỗi hành trình từng bước một, mỗi bước là một công việc song hành–vừa xác nhận một giáo pháp để thực hành, vừa đoạn trừ chấp trước vào giáo pháp đó.  Những giáo pháp Kinh Kim Cang nói đến là các pháp Bồ tát đạo, tức là các pháp của con đường Bồ tát.[14] Con đường này bắt đầu khi người thiện nam thiện nữ phát tâm bồ đề,[15] nguyện tự độ mình giải thoát để độ tất cả chúng sinh cùng giải thoát.[16] Tâm bồ đề này cũng là tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.[17]

Trên đường hành đạo, Bồ tát thực hành lục độ ba-la-mật, tức là sáu pháp tu—bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.[18] Bố thí, độ trì, chúng sinh được độ trì, công đức Bồ tát, hạnh nguyện Bồ tát, trang nghiêm cõi Phật, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, v.v… đều được nhắc đến trong Kinh Kim Cang, vừa để xác nhận giáo pháp vừa để đoạn trừ chấp trước.

Trong phần khảo sát sau đây, chúng ta sẽ dùng bản kinh Hán Việt và lời dịch tiếng Việt của hòa thượng Thích Thanh Từ.[19] Chúng ta sẽ đi qua từng đoạn kinh, và trong phần giảng giải, chúng ta sẽ chú tâm đến sợi chỉ xuyên suốt toàn kinh, tức là xác nhận giáo pháp và đoạn trừ chấp trước.

Đọc tiếp và download tại:  kinh-kim-cang_tdh1


[1] Upeksa (S.), to let go, to abandon, to relinquish.  (S.) là chỉ tiếng Sanskrist.

Tác giả thành thật cám ơn chị Diệu Tâm đã đọc bản thảo và sửa chửa.

[2] Lagati (S.), to attach, to cling, to grasp.

[3] Nirvana (S.)

[4] Anuttara Samyak Sambodhi (S.), A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

[5] Tam pháp ấn, trilaksana (S.), three dharma seals.

[6] Vô thường là anytia (S), impermanence; vô ngã là Anatma (S), non-self; Niết bàn là Nirvana.

[7] Thông thường người ta hay hiểu “ngã” là “tôi.”  Tuy nhiên, “ngã” nên được hiểu là “hiện hữu” vì không phải chỉ có tôi có ngã, mà tất cả mọi người, mọi chúng sinh, và mọi pháp đều xem như là có ngã, tức là có một hiện hữu (Đó là nói theo cách nói “chấp có”).  Do đó, “vô ngã” cũng có một ý nghĩa rất rộng rãi, đi xa hơn là tôi, đến mọi người, mọi chúng sinh, mọi pháp.  Nửa sau của Kinh Kim Cang (từ Đoạn 17) nói về khái niệm “ngã” và “vô ngã” rộng rãi và rốt ráo này.

[8] Tam pháp ấn thường được tóm tắt như sau:  Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh.

[9] Vajracchedika Paramita Sutra, the Diamond Sutra.

[10] Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc.  Xin xem Tiểu Luận Về Bát Nhã Tâm Kinh, việt dịch Diệu Tâm và Trần Đình Hoành, http://www.scribd.com/doc/7535744/Bat-Nha-Tam-Kinh-Trn-inh-Hoanh-Vit-ng.

[11] Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm (Mọi sự đều là không, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm).  Cái “chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm” đó chính là tuyệt đối, là bản thể, mà ta gọi là “Không.”  Xem Tiểu Luận về Bát Nhã Tâm Kinh, chú thích 10.

[12] Đôi khi người ta dùng chữ “chấp không” để chỉ “chấp phi tướng.”  Chữ “không” trong “chấp không” có nghĩa là “không có,” khác với “Không” là bản thể của sự vật.  Ở đây ta viết hoa chữ “Không” để hàm ý “bản thể.”

[13] Ta không nói “chấp tánh” vì nếu có “chấp tánh” thì cái mà ta gọi là tánh-để-mà-chấp đó thực ra là tướng, vì nếu đã ý niệm được tánh để mà chấp, thì tánh mà ta ý niệm đó đã thành tướng mất rồi.  Bất cứ ý niệm nào ta có trong tâm cũng đều là tướng, vì tướng chính là tưởng (samjna), là ý niệm.  Tánh, là tuyệt đối, thì không thể ý niệm được.  Cho nên, không thể có “chấp tánh.”  Chỉ có “chấp tướng” mà thôi.  (Trong Đoạn 3 của Kinh Kim Cang ta sẽ giải thích tướng chính là ý niệm).

[14] The Bodhisattva’s path.

[15] Tâm bồ đề là Bodhicitta.

[16] Tự độ và độ tha, to liberate oneself and liberate others.

[17] Anuttara Samyak Sambodhi (S.), A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, highest most-fulfilled awakened mind.

[18] Six virtues of perfection: giving, discipline, patience, devotion, meditation, wisdom.

[19] Xin xem http://www.thuong-chieu.org/uni/KinhSachThiKe/Kinh/KinhKimCang/TRANG_CHINH.htm.

Tháng Một 25, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , | No Comments Yet

Tứ Vô Lượng Tâm


Tứ Vô Lượng Tâm

Con đường Bồ tát[1] bắt đầu khi người thiện nam, người thiện nữ, phát tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.[2] Tâm này còn gọi là tâm bồ đề,[3] và phát tâm bồ đ tức là phát nguyện tự giải thoát mình để giải thoát tất cả chúng sinh. Đó là tự độ và độ tha.[4] Khi người thiện nam thiện nữ phát tâm bồ đề như vậy là đã trở thành Bồ tát,[5] bắt đầu tập sự con đường Bồ tát. Tâm bồ đề đương nhiên là đặt trên lòng thương yêu chúng sinh vô bờ bến của Bồ tát. Lòng thương yêu vô lượng này còn gọi là tứ vô lượng tâm, bốn tâm vô lượng, vì nó có bốn phần, hay bốn tâm – từ, bi, hỉ, xả.

Bốn tâm vô lượng[6] đã xuất hiện trong Phật Giáo Nguyên thủy[7] và còn có một tên nữa là bốn phạm trú.[8] Gọi là vô lượng, vì các tâm này rộng vô biên, vô giới hạn, khởi từ trong tâm ta, hướng đến không phải chỉ là một vài người hay một số lớn người, mà là đến tất cả mọi loài, tất cả chúng sinh. Gọi là phạm trú, vì có thể xem đây là thái độ tốt nhất của ta đối với chúng sinh, với tâm của ta hoàn toàn tinh khiết như tâm của vua cao nhất của cõi trời, Phạm thiên.[9] Như vậy là với bốn tâm vô lượng, ta “trú” ngang hàng với Phạm thiên.[10]


Bốn tâm vô lượng là các đề mục quán sát trong thiền định của Phật Giáo Nguyên Thủy. Trong khi thiền, hành giả quán sát theo thứ tự: từ, bi, hỉ, xả. Từ là thiền đầu tiên, bi là thiền cấp hai, hỉ cấp ba, xả cấp tư.
[11] Theo cách thiền tập này, thì các mức thiền quán của từ, bi và hỉ còn lệ thuộc vào tình thương của ta đối với chúng sinh, tức là vẫn còn tâm phân biệt giữa ta và chúng sinh, và giữa chúng sinh này với chúng sinh khác. Đến mức thiền thứ tư, xả, thì mới thực sư chuyên tâm thực tập tâm vô phân biệt, tâm bình đẳng, không còn thấy có sự khác biệt giữa các chúng sinh, và không có khác biệt giữa ta và chúng sinh. Lúc này tâm mới thực sự thanh tịnh vì không còn phân biệt.

Như vậy, ngay từ trong Phật Giáo Nguyên Thủy, xả đã là tâm quan trọng nhất trong bốn tâm vô lượng. Và điều này rất phù hợp với bát nhã[12] của Phật Giáo Đại Thừa.[13] Trong Đại Thừa, bát nhã hay bát-nhã ba-la-mật-đa[14] là trí tuệ tối thượng đưa đến giác ngộ hoàn toàn. Trong bát nhã, hoàn toàn không có một “chấp”[15] nào. Bát nhã là xả bỏ mọi vướng mắc, mọi chấp trước, đến mức cùng tận. Trong bát nhã, hoàn toàn không có chấp vào sự khác biệt giữa cái này và cái kia, giữa ta và chúng sinh, hoặc giữa các chúng sinh với nhau. Ta là chúng sinh, chúng sinh là ta, và tất cả chúng sinh đều như nhau.


Bởi vì xả nắm vai trò cốt cán nhất trong tứ vô lượng tâm, ta sẽ khảo sát xả trước, sau đó ta sẽ tiếp tục với từ, bi và hỉ. Và bởi vì xả bỏ hoàn toàn mọi chấp trước chính là trí tuệ bát nhã mà chư Phật ba đời quá khứ hiện tại tương lai đều tựa vào để đạt thành chánh quả,
[16] chúng ta sẽ khảo sát bốn tâm vô lượng trong trí tuệ bát nhã, tức là ở một mức triệt để hơn là xả của Phật Giáo Nguyên Thủy.


Đọc tiếp theo và
download tại:  tuvoluongtam_tdh

[1] Bồ tát đạo, the Bodhisattva path. Để giúp các bạn một số thuật ngữ Phật học tiếng Anh, thỉnh thoảng chúng tôi sẽ thêm môt vài từ tiếng Anh cuối trang. Tác giả thành thật cám ơn các chị Túy Phượng và Diệu Tâm đã đọc bản thảo và góp ý.

[2] Tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác còn gọi là tâm a-niệu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề (anuttara samyak sambodhi mind; highest most-fulfilled awakened mind).

[3] Bodhicitta.

[4] To liberate oneself and liberate others.

[5] Bodhisattva.

[6] Four measureless states, four sublime states.

[7] Theravada Buddhism.

[8] Brahmanvihara-niddesa.

[9] Phạm thiên là Brahman, chính là thượng đế trong Ấn giáo.

[10] Xin xem The Path of Purification – Visuddhimagga, chương IX, đ. 105-107, luận sư Bhadantacariya Buddhaghosa; dịch từ Pali sang Anh ngữ: Tỳ Kheo Nanamoli, Singapore Buddhist Mediation Center, 2001. Dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ: Thích Nữ Trí Hải, Thanh Tịnh Đạo, http://www.tangthuphathoc.net/phapluan/thanhtinhdao-00.htm.

[11] Đôi khi có cách tính, từ gồm cả thiền đầu và thiền hai, bi thiền ba, hỉ thiền bốn, xả thiền năm.

[12] Prajna.

[13] Mahayana Buddhism.

[14] Prajna paramita.

[15] Attachment; grasping.

[16] Bát Nhã Tâm Kinh. Xin đọcTiểu Luận Về Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch bởi Diệu Tâm và Trần Đình Hoành, http://www.scribd.com/doc/7535744/Bat-Nha-Tam-Kinh-Trn-inh-Hoanh-Vit-ng.

Tháng Một 25, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , | No Comments Yet

Bát Nhã Tâm Kinh (English/Vietnamese)

A Brief Exposition on Bát Nhã Tâm Kinh


Bát Nhã Tâm Kinh is the apex of the Mahayana Buddhism thought (Phật giáo đại thừa). Buddhism developed from Theravada (Phật giáo nguyên thủy, or tiểu thừa) to Mahayana (Đại thừa). Thailand, Myanmar, Sri Lanka, Cambodia and Laos are essentially Theravada. Vietnam, China, Japan, Korea, Hongkong, Singapore, Taiwan, Tibet and Mongolia are essentially Mahayana. However, Theravada has also had its presence in Vietnam as early as Mahayana.

In this long development of Buddhism, the key concept of Không (Sũnya in Sanskrist, “emptiness” or “void” in English) developed along. Life is non-permanent (vô thường) because everything comes and goes, depending on nhân duyên (the law of causation). Life is therefore illusory, not real. In other words, life is không or hư không.

This concept of Không may easily lead to the negative thought of nihilism. Mahayana Buddhism takes us back out of this extremist concept of Không to the middle way (trung đạo). This middle way still commits to the idea that “life is Không”; however không here is not different from có (existence), “không mà là có, có mà là không” (emptiness is existence, existence is emptiness). This middle way definitely takes away any inkling of nihilist negativism. It is realistic and positive about life.

Bát Nhã Tâm Kinh presents this middle way while going swiftly through all teachings of the Buddhist tradition, from Theravada to Mahayana. Studying Bát Nhã Tâm Kinh is really the studying of the whole Buddhism.

Bát Nhã Tâm Kinh is so central to Phật giáo đại thừa (Mahayana) that it is recited daily (kinh nhật tụng) by monks and nuns. In Vietnam, Bát Nhã Tâm Kinh is recited in hán việt (the Vietnamese transliteration of Chinese language). The hán việt version has the advantage of being a beautiful poem with good rhythm and sound and very concise language, therefore it is easy to memorize. The problem is that it is still a foreign language to most Vietnamese. However, since most Vietnamese Buddhist terms are hán việt anyway, it would be better for students of Buddhism to be familiar with some hán việt. For these reasons, in this study, we will use the hán việt version as the main version, along with the Vietnamese and English translations to facilitate the understanding.


Continue reading and down load at: bat-nha-tam-kinh_english_tdh

Tháng Một 25, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , , | No Comments Yet

Bát Nhã Tâm Kinh (Tiếng Việt)


Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh

Nguyên tác Anh ngữ: Trần Đình Hoành

Việt dịch: Diệu Tâm & Trần Đình Hoành


Bát Nhã Tâm Kinh là tinh hoa của tư tưởng Phật giáo Đại thừa (Mahayana).[1][1] Phật giáo được phát triển từ Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) hay Tiểu thừa đến Đại thừa. Phật giáo ở Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka, Campuchia và Lào chủ yếu theo Tiểu thừa. Phật giáo tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Tây Tạng và Mông Cổ chủ yếu theo Đại thừa. Tuy nhiên, Tiểu thừa cũng đã từng xuất hiện ở Việt Nam sớm như Đại thừa.

Trong quá trình phát triển dài của Phật giáo, quan niệm chính yếu về Không (emptiness, void, Sũnya trong tiếng Phạn) đã theo đó phát triển. Cuộc đời là vô thường (non-permanent) bởi vì mọi thứ đến và đi, tùy thuộc vào nhân duyên (the law of causation). Cuộc đời vì thế là ảo ảnh, không thực. Nói cách khác, đời là Không.

“Không” thường dễ bị hiểu nhầm theo hướng tiêu cực là triệt tiêu. Phật giáo Đại thừa đưa ta thoát khỏi quan niệm Không cực đoan này để trở về với trung đạo (the middle way). Con đường trung đạo vẫn mang ý tưởng rằng “đời là Không”, tuy nhiên Không ở đây chẳng khác với “có” (existence), “không mà là có, có mà là không” (emptiness is existence, existence is emptiness). Con đường trung đạo này hoàn toàn không có một tí tư tưởng triệt tiêu tiêu cực nào cả. Trung đạo là cái nhìn thực tế và tích cực về cuộc đời.

Bát Nhã Tâm Kinh thể hiện con đường trung đạo, trong khi trình bày nhanh chóng tất cả những giáo lý Phật giáo truyền thống, từ Tiểu thừa đến Đại thừa. Học Bát Nhã Tâm Kinh chính thực là học toàn bộ Phật pháp.

Bát Nhã Tâm Kinh là cốt lõi của Phật giáo đại thừa đến nỗi nó được các tăng ni tụng hàng ngày (kinh nhật tụng). Ở Việt Nam, Bát Nhã Tâm Kinh được tụng bằng tiếng Hán Việt. Bản Hán Việt có cái hay là mang âm hưởng và nhịp điệu đẹp như thơ và rất ngắn gọn, vì thế nó dễ thuộc, dễ nhớ. Vấn đề ở chỗ nó vẫn là ngoại ngữ đối với đa số người Việt. Tuy nhiên, vì phần lớn thuật ngữ Phật giáo là Hán Việt nên làm quen với một số thuật ngữ Hán Việt sẽ hữu ích cho những người học Phật. Vì những lý do trên, trong bài luận này, chúng ta sẽ dùng bản Hán Việt như là bản chính, cùng với bản dịch tiếng Việt để giúp ta hiểu dễ hơn.


Đọc tiếp theo và download tại: bat_nha_tam_kinh_vn_tdh

Tháng Một 25, 2009 Đăng bởi tdhoanh | Buddhism | , , | 2 phản hồi